SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
9
7
9
3
5
3
Tin hoạt động Thứ Năm, 24/05/2018, 10:10

Một số khó khăn, vướng mắc khi thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có nhiều điểm mới quan trọng, mang tính đột phá nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Luật ban hành VBQPPL năm 2008 và Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ những quy định mới của Luật, cần phải nghiên cứu sửa đổi, hướng dẫn cho phù hợp với thực tiễn. Cụ thể như:

Một là, một số nội dung mới chưa được hướng dẫn cụ thể khó thi hành

Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP bổ sung quy trình mới, trước khi ban hành VBQPPL để phục vụ cho phát triển KT - XH của địa phương, đó là các biện pháp, chính sách đặc thù của địa phương cần phải lập đề nghị xây dựng nghị quyết trình Thường trực HĐND tỉnh quyết định như: Đề xuất chính sách; xây dựng nội dung chính sách; quy trình xây dựng chính sách; báo cáo đánh giá tác động của chính sách, thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết và thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết. Tuy nhiên, những nội dung về báo cáo đánh giá tác động của chính sách chỉ mang tính nguyên tắc, quy định chung, chưa cụ thể, nên rất khó thực hiện như: Phương pháp đánh giá tác động chính sách trong dự thảo VBQPPL; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; so sánh các chi phí về lợi ích,... và hình thức của văn bản thông qua chính sách chưa được hướng dẫn và quy định cụ thể trong Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. 

Hai là, về căn cứ pháp lý để ban hành VBQPPL

Tại Khoản 1, Điều 61 của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì căn cứ pháp lý để ban hành VBQPPL phải là VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn, không được căn cứ vào văn bản áp dụng pháp luật hoặc văn bản cá biệt có chứa QPPL của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp trên. Trường hợp, nếu không tuân thủ đúng quy định thì các văn bản đã được ban hành đó là các văn bản có dấu hiệu trái pháp luật và phải được kiểm tra, xử lý theo quy định của Điều 103, Điều 104 và Điều 130 của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay nhiều văn bản không phải là QPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương lại giao trách nhiệm cho HĐND, UBND cấp tỉnh ban hành văn bản để quy định cụ thể các nội dung phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương. Do vậy, nếu không căn cứ vào các văn bản trên thì việc ban hành nghị quyết của HĐND tỉnh, quyết định của UBND tỉnh thiếu tính thuyết phục và là thiếu sót trong việc xác định cơ sở pháp lý về nội dung.

Ba là, việc xác định VBQPPL của cấp huyện, cấp xã

Theo quy định tại Điều 30 của Luật năm 2015 thì HĐND cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết; UBND cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay việc hiểu thế nào là “luật giao” để từ đó xác định thẩm quyền ban hành VBQPPL của cấp huyện vẫn còn lúng túng và thiếu tính nhất quán. Chẳng hạn như các quyết định quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; các nghị quyết về phát triển KT - XH,... Ngoài ra, một số nội dung Luật không giao, nhưng để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, quản lý xã hội cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp huyện, cấp xã và cần thiết phải ban hành các văn bản để điều chỉnh. Do vậy, việc ban hành văn bản trong trường hợp này gặp rất nhiều vướng mắc, còn nhiều quan điểm khác nhau. Nếu ban hành VBQPPL thì trái với quy định của pháp luật, do chưa được Luật giao; còn ban hành văn bản áp dụng thì lại chứa các QPPL.

Bốn là, nội dung thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND cấp xã

Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã quy định các nội dung thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện. Tuy nhiên, nội dung thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND cấp xã chưa được quy định và hướng dẫn bằng văn bản. Đây là một nhiệm vụ mới của các Ban HĐND cấp xã, nhưng chưa được hướng dẫn cụ thể và rõ ràng, nên gây khó khăn trong công tác tổ chức triển khai thực hiện và dẫn đến việc thực hiện qua loa, hình thức.

Năm là, quy định về đăng tải dự thảo trên Cổng TTĐT của tỉnh

Theo quy định của Luật năm 2015 thì dự thảo VBQPPL của HĐND và UBND tỉnh phải được đăng tải trên Cổng TTĐT của tỉnh trong thời hạn 30 ngày để các tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến. Tuy nhiên, việc đăng tải này chỉ mang tính hình thức, thủ tục bắt buộc, vì thời gian qua không có cá nhân, tổ chức nào tham gia đóng góp ý kiến trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh. Đồng thời, việc lấy ý kiến tham gia góp ý chỉ thực hiện đối với các cơ quan, tổ chức có liên quan, chưa thật sự lấy ý kiến rộng rãi đối với các cá nhân là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo VBQPPL.

Sáu là, liên quan đến vấn đề quy định hiệu lực trở về trước

Điều 152 Luật năm 2015 quy định chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong Luật, nghị quyết của Quốc hội, VBQPPL của cơ quan Trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước. VBQPPL của HĐND, UBND các cấp, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực trở về trước. Tuy nhiên, trong thực tiễn, các VBQPPL ở địa phương được ban hành trên cơ sở phân cấp, ủy quyền của các cơ quan Trung ương. Do vậy, thời điểm có hiệu lực của văn bản ở địa phương sẽ chậm hơn văn bản của các cơ quan cấp trên, nhất là các văn bản phải thông qua HĐND và sẽ có hiệu lực trễ hơn văn bản của Trung ương, nhưng không được quy định hiệu lực trở về trước, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các đối tượng được áp dụng, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ.

Từ những khó khăn, vướng mắc đó, để công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả, từng bước nâng cao chất lượng và nội dung của VBQPPL thì Bộ Tư pháp cần có Thông tư hướng dẫn cụ thể những vấn đề còn vướng mắc. Cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ xây dựng, ban hành VBQPPL cho địa phương. Đồng thời, các cơ quan tham mưu phải bố trí công chức đủ trình độ, năng lực làm công tác xây dựng VBQPPL./.

Ban biên tập

 


Số lượt người xem: 678 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày