SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
2
2
1
7
3
4
ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU Thứ Năm, 10/09/2015, 14:30

Ứng cử, bầu cử - quyền chính trị cơ bản của công dân

Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1.9.2015, còn rất nhiều việc phải chuẩn bị, phải nghiên cứu để tổ chức thực hiện khả thi và hiệu quả trong thực tiễn, khi mà một nhiệm kỳ của cơ quan dân cử đã gần kết thúc. Tin tưởng một cuộc bầu cử tự do và dân chủ, thống nhất giữa ý Đảng - lòng dân, để khởi đầu thuận lợi cho một nhiệm kỳ mới của cơ quan đại diện của Nhân dân, vì Nhân dân.

Ngày 3.9.1945, chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị một trong sáu nhiệm vụ cấp bách cần phải thực hiện ngay là “... tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để bầu ra QH. Vượt qua muôn vàn khó khăn của thù trong, giặc ngoài, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đã được tổ chức thành công, một cuộc bầu cử thật sự tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam.

70 năm đã trôi qua, sự trùng hợp ý nghĩa vào ngày đầu tháng 9, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND có hiệu lực. Theo tinh thần Hiến pháp 2013, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND đã khắc phục những hạn chế, bất cập trong bầu cử, kịp thời thể chế hóa những nội dung quan trọng của Hiến pháp về quyền bầu cử, ứng cử với tư cách là quyền chính trị cơ bản của công dân; đồng thời, pháp điển hóa những quy định về công tác bầu cử đã được thực hiện và phù hợp với thực tiễn… Đó là cơ sở pháp lý để chuẩn bị và tổ chức thành công cuộc bầu cử ĐBQH Khóa XIV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021.

Để những người muốn lo việc nước ra ứng cử

Những ngày bắt đầu đưa Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND đi vào cuộc sống, lại nhớ đến những tư tưởng của Bác Hồ về bầu cử: tự do bầu cử, dân chủ trong bầu cử. Những nguyên tắc đã được thể chế hóa rất rõ trong Luật Bầu cử hiện hành. Vấn đề đặt ra là tổ chức thực hiện như thế nào để những nguyên tắc này đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh động của một cuộc bầu cử thực sự tự do, bình đẳng và dân chủ.

Về nguyên tắc tự do ứng cử, bầu cử, Bác Hồ nói rất dung dị: “... hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giầu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó”. Luật hiện hành đã quy định hai hình thức để công dân thực hiện “quyền ra ứng cử” là tự ứng cử và được đề cử từ các cơ quan, tổ chức. Về cơ bản, các quy định pháp luật đã tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền tự ứng cử, góp phần phát huy dân chủ trong bầu cử. Tuy nhiên, trong thực tế, quyền tự ứng cử còn một số bất cập, trong đó rõ nhất là vấn đề người tự ứng cử rất ít và có ít người tự ứng cử được trúng cử làm đại biểu.

Để bảo đảm cho “những người muốn lo việc nước đều có quyền ra ứng cử”, cần tiếp tục đổi mới công tác hiệp thương, nâng cao trách nhiệm của MTTQ Việt Nam trong vai trò chủ trì quá trình hiệp thương; làm tốt việc phát hiện, khuyến khích những người đủ đức, đủ tài tham gia tự ứng cử; đồng thời cần có các quy định cụ thể, rõ ràng hơn trong việc xem xét, tiếp nhận, thẩm định hồ sơ của người tự ứng cử. Phải làm sao để vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, vừa bảo đảm dân chủ, bình đẳng trong bầu cử, bảo đảm quyền tự ứng cử của công dân. Qua đó, góp phần lựa chọn, sàng lọc người ra ứng cử, đúng tiêu chuẩn, cơ cấu, dân chủ, công khai và công bằng. Một thực tiễn sinh động cần phải soi vào để học hỏi kinh nghiệm là nhờ thực hiện triệt để nguyên tắc tự do bầu cử, cuộc Tổng tuyển cử ngày 6.1.1946, để bầu được 333 đại biểu đã có hàng nghìn người ứng cử và ở mỗi đơn vị bầu cử, số ứng cử viên nhiều hơn gấp nhiều lần số đại biểu cần bầu.

Sự tham gia của phụ nữ trong cơ quan dân cử

Tư tưởng bình đẳng giới trong bầu cử cũng đã được Bác Hồ đề cập rất rõ trong Tổng tuyển cử 1946 “Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền bầu cử và ứng cử”. Thật sự, tạo cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và nam giới trong lĩnh vực chính trị là tiền đề quan trọng cho việc thúc đẩy sự phát triển bền vững về mặt xã hội. Đây cũng chính là lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong công tác bầu cử, bảo đảm nam và nữ đều có cơ hội như nhau để tham gia vào hoạt động chính trị. Với Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam đã có cam kết của hệ thống chính trị về thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị. Trong đó, xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ nữ ĐBQH và HĐND các cấp đạt từ 35% đến 40%. Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 đã đặt ra chỉ tiêu “phấn đấu đạt tỷ lệ nữ ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 - 2020 trên 30%”.

Tuy nhiên, trên thực tế, dù đã có những tiến bộ đáng kể song tỷ lệ phụ nữ tham gia trong QH và HĐND các cấp đều chưa đạt mục tiêu đề ra (tỷ lệ nữ ĐBQH chỉ đạt 24,40%, tỷ lệ nữ đại biểu HDND cấp tỉnh là 25,17%, cấp huyện là 24,62% và cấp xã là 21,71%). Tỷ lệ phụ nữ tham gia hoạt động chính trị của Việt Nam bị sụt giảm về thứ hạng so với thế giới (nhiệm kỳ trước, Việt Nam xếp thứ 28 trên thế giới, nhiệm kỳ này đứng thứ 39 trên thế giới). Yêu cầu đặt ra là ngoài việc giải quyết tốt bài toán về cơ cấu và chất lượng đại biểu, cần quan tâm đặc biệt đến công tác tuyên truyền, vận động bầu cử để xóa định kiến về giới: xem phụ nữ là người đảm nhiệm việc nội trợ, chăm sóc gia đình, còn chuyện “quốc gia đại sự” là của nam giới… Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các cơ quan dân cử, nâng cao, phát huy trình độ, năng lực và vai trò của phụ nữ, bảo đảm để phụ nữ thực hiện tốt chức năng của mình và được tham gia đầy đủ, bình đẳng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND có hiệu lực từ ngày 1.9.2015, hướng đến cuộc bầu cử ĐBQH Khóa XIV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, còn rất nhiều vấn đề phải chuẩn bị, để tổ chức thực hiện trong thực tiễn; và còn rất ít thời gian để triển khai, đưa Luật Bầu cử đi vào cuộc sống khi mà một nhiệm kỳ của cơ quan dân cử đã gần kết thúc, và một nhiệm kỳ mới sẽ bắt đầu. Cuộc bầu cử là sự thống nhất giữa ý Đảng - lòng dân, có cơ sở pháp lý vững chắc, khởi đầu thuận lợi cho một nhiệm kỳ mới của cơ quan đại diện của dân, do dân và vì dân./.

Nguồn: Báo ĐBND


Số lượt người xem: 1113 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày