SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
4
9
6
2
7
8
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Thứ Năm, 18/08/2016, 09:00

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý

Trong bối cảnh đất nước ta đang tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thuật ngữ “công lý” đã được ghi nhận tại nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước. Công lý được khẳng định là một bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân.

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý trải qua nhiều giai đoạn hình thành và phát triển. Trong giai đoạn đầu, Người đã thể hiện niềm tin và khát vọng mãnh liệt về một nền công lý đích thực và chân chính cho nhân dân Việt Nam. Trong giai đoạn tiếp theo, Người lên án mạnh nền công lý thực dân giả tạo, hà khắc, tàn bạo, phi nhân tính của thực dân Pháp tại các nước thuộc địa, từ đó thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân ta, dân tộc ta. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý đã góp phần tạo nên niềm tin của nhân dân vào tính chính đáng, chính nghĩa của chính quyền cách mạng. Khát vọng và tình yêu công lý đó đã tiếp tục được thắp sáng thành ý nguyện của dân tộc ta, của nhân dân ta, góp phần lên án các cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, kêu gọi hòa bình, tự do, công bằng và quyền cơ bản của con người, từ đó làm sáng rạng những phẩm giá tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Tình yêu và khát vọng về một nền công lý chân chính của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện ngay tại bản “Yêu sách nhân dân An Nam”, văn bản do Nguyễn Ái Quốc thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam gửi đến trưởng đoàn các nước tham dự Hội nghị Vécxây (Pháp) năm 1919. Đây là một văn bản đánh dấu một bước trưởng thành mạnh mẽ về nhận thức của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình tìm tòi, khảo nghiệm con đường giải phóng dân tộc. Yêu sách thể hiện một niềm tin chân chính rằng tiền đồ một thời đại công lý và chính nghĩa nhất định phải đến với các dân tộc bị lệ thuộc. Nhân dân An Nam trông cậy vào chính nghĩa và công lý, mong muốn được thừa nhận và hiện thực hóa quyền tự quyết thiêng liêng của dân tộc, bảo đảm cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu Châu.

Để tố cáo và vạch trần nền công lý giả tạo, hà khắc, phi nhân tính của thực dân Pháp tại các nước thuộc địa, đồng thời tiếp tục thể hiện khát vọng tự do của dân tộc, nhân dân Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã có hàng loạt bài viết và truyện ký như: “Tâm địa thực dân”, “Vấn đề dân bản xứ”, “Lời than vãn của bà Trưng Trắc”, “Thư gửi Khải Định”, “Chủ nghĩa quân phiệt thực dân”, “Diễn đàn Đông Dương”, “Cuộc kháng chiến”, “Hành hình kiểu Linsơ”, “Bản án chế độ thực dân Pháp”… Đồng thời Người cũng mạnh mẽ lên án sự tàn bạo của cái gọi là “công lý Đông Dương” tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp năm 1921 và Phiên họp thứ 25 Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản. Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý trong giai đoạn này đã được định hình ngày càng sâu sắc và rõ nét hơn.

Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII Đảng xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc cũng đã thẳng thắn vạch trần bản chất phản động của nền công lý thuộc địa: “Trong vài phút, tôi không thể vạch được hết những sự tàn bạo mà bọn tư bản ăn cướp đã gây ra ở Đông Dương. Nhà tù nhiều hơn trường học, lúc nào cũng mở cửa và chật ních người. Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng đều bị bắt và đôi khi bị giết mà không cần xét xử. Cái gọi là công lý Đông Dương là thế đấy!”. Tại “Bản án chế độ thực dân Pháp”, bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp tục vạch trần nền công lý thực dân giả tạo: “Ở Đông Dương có hai thứ công lý. Một thứ cho người Pháp, một thứ cho người bản xứ. Người Pháp thì được xử như ở Pháp. Người An Nam thì không có hội đồng bồi thẩm, cũng không có luật sư người An Nam. Thường thường người ta xử án và tuyên án theo giấy tờ, vắng mặt người bị cáo. Nếu có vụ kiện cáo giữa người An Nam và người Pháp thì lúc nào người Pháp cũng có lý cả mặc dù tên này ăn cướp hay giết người…”. 

Quay trở lại với dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc bày tỏ lòng tự hào và lòng yêu mến nền văn hiến ngàn năm, mà trong nền văn hiến đó vẫn sáng ngời những giá trị của công lý và luật pháp. Ở nước Việt Nam thời đó, “Luật pháp, cổ phong, tôn giáo, văn học, tất cả đều đã hoàn chỉnh và hoà hợp với nhau, trải qua bao nhiêu thế kỷ, đã được điều hoà và ngày càng hoàn hảo thêm. Những vết tích man rợ đã mất đi từ lâu, dân tộc này đã sống trong một xã hội thuần thục có tổ chức trong khi những người phương Tây còn ở tình trạng bán khai. Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, tôn kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa, ham thích khoa học, coi trọng lời nói thánh hiền, thương yêu nòi giống, tôn kính lẽ phải; ghét xa hoa, không hám tiền tài, khinh ghét vũ lực, không sợ gian khổ, hy sinh; đó là những đức tính răn dạy trong sách thánh hiền, lưu lại trong cổ phong và ghi thành luật pháp; hiện nay đó cũng là những đặc điểm về bản tính của người An Nam hình thành từ bao thế hệ, những thế hệ luôn luôn cố gắng thực hiện đạo đức ấy một cách thành kính”.

Từ truyền thống đáng tự hào của dân tộc, từ lòng yêu nước thương dân, Nguyễn Ái Quốc đã kêu gọi, giục giã dân tộc, nhân dân đứng lên đòi độc lập, tự do và công lý: “Chúng tôi mong rằng dư luận nước Pháp thông cảm với những nỗi đau khổ của các anh em và sẽ đấu tranh đòi cho Công lý được thực hiện”.

Trong cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời gian từ  29/8/1942 đến 10/9/1943 là một trong những giai đoạn khó khăn nhất khi Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam giữ. Trong tù, Người đã viết “Nhật ký trong tù” với 133 bài. Vấn thoại (Hỏi cung) là bài thứ 10 trong tập thơ với tinh thần lạc quan, trào phúng và hóm hỉnh. Nội dung của bài thơ miêu tả vị quan tòa tính không lành mà nói là tính lành, không giả bộ ác mà nói là giả bộ ác, muốn khép tội người mà vờ giả ý ân cần, do tính tráo trở đó, Người kết luận, ở giữa hai cực quan tòa và phạm nhân phải có thần công lý để xét xử:

“Ở giữa hai cực đó,

Công lý đứng làm thần.”

Với nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công lý, ngay sau khi thành lập nhà nước cách mạng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức quan tâm đến nhiệm vụ của chính quyền nhân dân trong việc bảo vệ và thực thi công lý. Có thể nói, công lý và bảo vệ công lý đã trở thành vũ khí tư tưởng, chính trị, pháp lý sắc bén ngay từ những ngày đầu của Nhà nước cách mạng nhân dân. Điều 47 Sắc lệnh số 13 của Chủ tịch nước ngày 24 tháng 01 năm 1946 quy định cách tổ chức toà án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã khẳng định “Các vị thẩm phán sẽ chỉ trọng pháp luật và công lý”. Điều 25 Sắc lệnh này quy định: Khi các Phụ thẩm nhậm chức, tại phiên toà đầu, ông Chánh án sẽ mời các Phụ thẩm tuyên thệ, nội dung lời tuyên thệ là “Tôi thề trước Công lý và nhân dân rằng tôi sẽ suy xét cẩn thận những án đem ra xử, không hề ăn hối lộ, vị nể, vì sợ hãi hay vì tư lợi hay thù oán riêng mà bênh vực hay làm hại một bị can nào. Tôi sẽ cứ công bằng mà xét định mọi việc…”. Trong huấn thị “Chính phủ là công bộc của dân”, Người nhắc nhở: “Ủy ban nhân dân làng trái với các hội đồng kỳ mục cũ thối nát, sẽ làm những việc có lợi cho dân, không phạm vào công lý, vào tự do của dân chúng. Nó hết sức tránh cuộc bắt bớ đánh đập độc đoán, những cuộc tịch thu tài sản không đúng lý..”.

Tuy nhiên, từ năm 1946, với dã tâm xâm lược đất nước ta một lần nữa, thực dân Pháp mỗi lúc một điên cuồng lấn tới. Là hiện thân của ý chí hòa bình Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để tránh một cuộc chiến tranh đổ máu giữa hai dân tộc thông qua việc kêu gọi hòa bình, công lý và nhân phẩm.

Trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh - người đại diện cho tinh thần yêu nước và đấu tranh bất khuất của dân tộc Việt Nam đã kêu gọi quốc dân đồng bào quyết tâm giữ gìn nền độc lập non trẻ. Trong Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ, Người khẳng định: “Vì công lý, cuộc kháng chiến tự vệ của dân tộc ta phải toàn thắng”, còn trong Diễn văn đọc trong “Ngày toàn quốc kháng chiến” (5/11/1945), Người kêu gọi: “Vì chính nghĩa, công lý của thế giới, vì đất nước giống nòi của Việt Nam, mà toàn quốc đồng bào ta nổi lên tranh đấu quyết giữ vững nền độc lập của ta”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thống nhất đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy những giá trị bền vững của công lý để khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến. Trong Thư trả lời một công dân Mỹ (1966), Người nói: “Nhân dân Mỹ có truyền thống yêu chuộng công lý, tự do và hoà bình. Nhân dân Việt Nam rất quý trọng nhân dân Mỹ, muốn đoàn kết với nhân dân Mỹ đang đấu tranh cho các quyền dân chủ và chống chiến tranh xâm lược Việt Nam”. Tại Lời kêu gọi nhân ngày 20 tháng 7, Người khẳng định: “Nhân dân ta rất yêu chuộng hoà bình nhưng phải có độc lập, tự do thật sự thì mới có hoà bình chân chính. Lập trường của ta rất chính đáng, rõ ràng: ngày nào đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược nước ta, chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, để dân ta tự do giải quyết công việc nội bộ của mình, thì ngày đó hoà bình sẽ lập lại ngay. Đó là nguyện vọng của nhân dân ta, mà cũng là nguyện vọng của nhân dân tiến bộ Mỹ và nhân dân yêu chuộng hoà bình, công lý trên thế giới”.

Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991), Đảng ta đã ghi nhận một cách trân trọng những giá trị mang tính chất nền tảng, định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh tại những văn bản quan trọng nhất của mình là Cương lĩnh và Điều lệ. Đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã tiếp tục khẳng định giá trị chân chính của tư tưởng Hồ Chí Minh: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

Cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta xác định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Với những ý nghĩa và tầm quan trọng đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý cần được khẳng định là một bộ phận quan trọng, gắn liền với tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân./.

Ban biên tập

 


Số lượt người xem: 383 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày