SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
2
9
7
7
9
6
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Thứ Năm, 25/10/2012, 10:20

Những câu chuyện kể về Bác - Kỳ 13

 

 

Ngôi nhà sàn đơn sơ của Bác

1. Như thế là Bác dạy chúng ta

Sau khi Anh hùng Đặng Đức Song được Trường Văn hóa Quân đội cử đi dự Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới về, trong trường đã có sự thay đổi mới.

Đó là, theo lệnh của Chính ủy Lê Quang Hòa, trong tất cả các buổi nói chuyện, xem phim, xem văn công, các nữ quân nhân, nữ nhân viên đều được lên ngồi hàng ghế đầu.

“Sự kiện” này là “kết quả” câu chuyện của đồng chí Song. Đồng chí Song kể:

“Bấy giờ chúng tôi đang ở đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh. Bác đi Liên Xô ghé qua thăm đoàn chúng tôi. Hết buổi nói chuyện, Bác chia quà cho các cháu bé. Có một anh trong sứ quán ngồi gần Bác, ăn mặc sang trọng, cứ đẩy đẩy hai con của mình – cháu gái thì má phấn môi son, “nơ” gắn trên mái tóc phi dê, cháu trai thì com-lê cà vạt, đến gần Bác.

Nhưng Bác lại gọi các chị, các cô công nhân ngồi ở xa đưa các cháu vào trước. Và Bác bảo cách “đàn ông”, “thanh niên” lùi ra, “mở đường” để các chị và các cháu ấy vào. Các cháu này mặc quần áo vải màu xanh, được “dịp” chạy ào ào… Bác chia kẹo cho các cháu này trước rồi mới chia kẹo cho các cháu ngồi gần sau… Và chúng tôi là những người sau cùng nhận quà…”.

Nghe kể xong, Chính ủy kết luận:

- Như thế là Bác dạy chúng ta: phải ưu tiên Phụ nữ và các cháu.

2. Quà tặng của Bác

Một buổi sáng mùa thu năm 1950, Bác Hồ đi công tác, vừa qua vọng gác ATK (an toàn khu) thì gặp một cô bé. Cô vừa đi vừa ngắm nhìn cây cối, chim chóc. Thoáng thấy một cụ già một áo kaki vàng, khăn quàng bên vai, cô sững sờ giấy phút rồi hét lên:

- Bác, Bác Hồ!

Bác đi lần lại, hỏi:

- Cháu đi đâu mà sớm thế?

Cô gái  nhanh nhẩu thưa:

- Thưa Bác, cháu bên chú Tô (bí danh của đồng chí Phạm Văn Đồng) sang đưa công văn ạ.

Bác lại hỏi:

- Cháu đi từ mấy giờ sáng mà đã đến đây sớm thế?

- Thưa Bác, tan sương là cháu đi ngay ạ.

Bác động viên:

- Giỏi lắm. Thế đi liên lạc có vui không?

- Dạ vui lắm.

- Thế bên ấy có ăn cơm độn không?

- Dạ có ạ, nhưng các anh thấy cháu là con gái nên dành cho ăn cơm…

Bác dặn:

- Trưa nay ở đây ăn cơm rồi hãy về.

Trưa hôm ấy, bữa cơm gạo đỏ, tôm rim, canh rau muống đựng trong ống bương nhưng cô gái ăn rất ngon lành.

Chúng tôi bảo cô:

- Rau muống Bác trồng đấy:

Ít lâu sau, cô liên lạc được chuyển sang Văn phòng của Phủ Chủ tịch. Chúng tôi gọi cô là cô Hiền, vì thật sự là cô hiền từ quá, mặc dù tên của cô là Đức – Hiền Đức. Cuối năm, cơ quan chọn một số thanh niên đi sang Trung Quốc học. Cô Hiền cũng có trong danh sách, nhưng ý không muốn đi.

Một hôm, Bác cho gọi Hiền. Bác hỏi:

- Cháu có muốn công tác tốt không?

- Có ạ.

- Có muốn phục vụ nhân dân được nhiều không?

- Có ạ.

- Thế thì phải đi học. Học tập để hiểu biết thêm, hiểu biết nhiều. Có hiểu biết nhiều mới phục vụ nhân dân được nhiều, được tốt.

Bác đưa cho cô Hiền hộp thuốc lá của Bác:

- Bác tặng cháu cái hộp này để đựng kim chỉ. Ngoài giờ học phải học thêu thùa, vá may. Con gái là phải biết làm các việc đó.

Bẵng đi mấy năm, ngày 12/6/1956, Bác đến thăm lớp đào tạo hướng dẫn viên trại hè tại trường Chu Văn An, Hà Nội. Trong câu chuyện Bác nói đại ý: “Trong giáo dục không những phải có tri thức, mà phải có đạo đức nữa. Có đức mà không có tài cũng như ông Bụt trong chùa, không giúp ai được gì”.

Nói xong chuyện, Bác bước xuống bục đến gần một cô giáo hỏi:

- Cháu Đức phải không?

Cô giáo, cô Hiền Đức liên lạc ngày nào òa lên khóc. Nhìn thấy em nhỏ trên tay Đức, Bác hỏi:

- Cháu được đầy năm chưa?

Cô giáo Đức trấn tĩnh lại, thưa:

- Dạ, được 3 tháng ạ.

Bác khen:

- Cháu bụ lắm. Chú ấy công tác ở đâu?

- Dạ, nhà cháu ở bộ đội ạ… Thưa Bác, nghe lời Bác cháu đi học sư phạm rồi về nước dạy học. Cái hộp Bác cho, cháu vẫn giữ ạ…

Bác hỏi:

- Thế bây giờ cô giáo thêu thùa, khâu vá đã giỏi chưa?

- Thưa Bác, cũng tàm tạm ạ.

Bác dặn:

- Đã là cô giáo thì phải dạy cho học trò biết nữa. Vừa dạy học vừa nuôi con được như thế này là giỏi. Nhưng phải cố gắng thêm.

- Dạ, cháu xin hứa.

Mấy ngày sau, đồng chí nhiếp ảnh trình Bác xem mấy tấm ảnh, trong đó có bức ảnh Bác đang vuốt má con cô Hiền Đức.

Bác bảo một đồng chí trong Văn phòng:

- Chú tìm nhà cháu Đức đưa tấm ảnh này tặng cô giáo.

Không rõ năm nay cô giáo Hiền Đức ở đâu? Có còn giữ được tấm ảnh quý ấy không? Và hai mẹ con đã đi một quãng đường như lời hứa với Bác thế nào?

3. Chủ tịch nước xưng “cháu” với dân

Một nhà nghiên cứu về Việt Nam là công dân Mỹ có lần tâm sự:

“Người Mỹ ít hiểu về dân tộc Việt Nam, về tinh thần yêu nước của người Việt Nam. Ngay một đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất thôi cũng đã thấy rõ tính chặt chẽ của cộng đồng gia tộc, làng nước Việt Nam. Tôi không thể nào giải thích cho người Mỹ hiểu rằng Hồ Chí Minh lại xưng “cháu” với cụ già công nhân được”.

Về việc “hiểu ít”, “không hiểu” Việt Nam xin để nhà nghiên cứu người Mỹ bàn. Chỉ xin nói thêm rằng việc Bác Hồ xưng “cháu”, xưng tôi, xưng Bác thân thương, khiêm tốn là nhiều hơn xưng “Chủ tịch nước”. Bác xưng như vậy là thực lòng, thực tâm của Bác.

Khi chưa có chính quyền, cán bộ có ẩn náo trong dân, nhờ dân nuôi nấng, giúp đỡ bát cơm, tấm áo, giúp đỡ việc giao thông, liên lạc… thì chưa có cán bộ nào “lên mặt làm quan cách mạng” như Bác viết trong thư “Gửi các đồng chí tỉnh nhà”, ngày 17 tháng 9 năm 1945, mới 28 ngày sau khi Đảng và nhân dân giành được chính quyền… Và đúng một tháng sau, ngày 17 tháng 10 năm 1945, báo Cứu quốc, số 69 đăng thư của Bác gửi “ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”. Trong thư, Người phê bình “thói kiêu ngạo” của cán bộ như sau:

“Tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân gian, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên…”.

Ngày 20 tháng 10 năm 1945, trong buổi sáng tiễn đưa 500 đội viên xung phong tuyên truyền lên đường tại Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội, sau khi nhắc nhở anh em “phải biết mục đích tuyên truyền, biết chịu kham khổ, nhẫn nại…” Bác lại căn dặn: “Chớ lên mặt “quan cách mạng”, “chớ vác mặt làm quan cách mạng” cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”.

Sự kiện này gợi cho ta một suy nghĩ. Nếu nói là “chủ tịch” này, “ủy viên” kia lên mặt “quan cách mạng là dễ hiểu. Nhưng đội viên tuyên truyền cũng “dám lên mặt” “quan cách mạng” thì xem ra cái bệnh “vác mặt làm quan cách mạng” rất hay lây… Vì sao có một số người là “quan”, chưa là “quan”, không là “quan” mà vẫn “lên mặt quan cách mạng?”. Theo Bác Hồ, đó là vì họ cho mình “cao cao tại thượng, muốn ăn trên, ngồi trốc”, không muốn làm đầy tớ dân mà lại muốn làm “phụ mẫu” dân… Đứng trước dân, nếu là người già, Bác “thưa cụ”, như đã thưa với cụ Võ Liêm Sơn, Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, cũng như với Cụ Tôn, Cụ Thúy… hơn tuổi Bác, như Cụ Phụng Lục ở Sơn Tây, Bác xưng “cháu”… Với cán bộ ít tuổi, Bác xưng minh, tôi, Bác, với các cháu, các cô thân yêu và khi thương nhất, Bác gọi “cháu”…

4. Câu chuyện cái giường của Bác

Khoảng tháng năm 1964, Văn phòng Phủ Chủ tịch cùng Bộ trưởng Bộ Nội thương và Phó Giám đốc kỹ thuật Nhà máy Cơ khí Nội thương bàn việc đóng cho Bác một chiếc gường cá nhân.

Lúc đó, Nhà máy cơ khí Nội thương mới được thành lập và chịu sự quản lý của Cục kiến thiết cơ bản Bộ Nội thương. Ngoài phần cơ khí nhà máy còn sản xuất cả đồ mộc. Tuy là nhà máy của một ngành, nhưng biên chế cũng mới chỉ có vài chục người, máy móc cũng không nhiều. So với các nhà máy “đàn anh” khác như Trần Hưng Đạo, với một số máy móc và đội ngũ kỹ thuật viên giỏi thì nhiệm vụ này thật bất ngờ đối với Nhà máy Cơ khí Nội thương.

Người được giao nhiệm vụ vinh dự này là đồng chí Phó Giám đốc kỹ thuật Trần Vĩnh Xương, người từng tham gia thiết kế và chế tạo nhiều sản phẩm cơ khí, kể cả vũ khí, các sản phẩm đồ gỗ cao cấp, chuyên dụng. Tuy nhiêu, đóng giường cho Bác Hồ lại là một việc hoàn toàn khác, vì đây không phải là chiếc giường đặc biệt, khác kiểu dáng hay có thiết bị đặc biệt. Đồng chí Trần Vĩnh Xương bối rối và lo lắng. Khi trao đổi, đồng chí cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch cũng không đưa ra yêu cầu cụ thể mà chỉ nói chung chung, làm sao để Bác có thể chấp nhận.

Sau vài ngày suy nghĩ, nhận thấy Bác là người sống giản dị, hòa mình với thiên nhiên và nhân dân, luôn chú trọng giữ gìn bản sắc dân tộc, đồng chí Trần Vĩnh Xương chủ trương phải làm chiếc giường theo những chủ trương đó. Chiếc giường cá nhân của Chủ tịch dần dần hình thành trong ý đồ thiết kế của tác giả: đó là chiếc giường gỗ đơn giản, rộng 1m2, không chạm trổ cầu kỳ. Bốn chân giường choãi ra, vững chãi như mang dáng hình của chiếc chõng tre mộc mạc. Dát giường bằng gỗ bào nhẵn để mùa hè đến, Bác có thể bỏ chiếu ra, chiếc giường sẽ trở thành chiếc phản gỗ mát mẻ và cũng rất Việt Nam.

Sau ba ngày, đồng chí Xương cùng một số công nhân có kỹ thuật cao tìm chọn loại gỗ chắc, bền, đẹp để đóng giường theo thiết kế. Chiếc giường làm xong nhưng mọi người càng hồi hộp hơn, chờ ý kiến nhận xét của Bác. Anh em chỉ nhận được một thông báo ngắn: “giường đã được kể ở phòng ngủ trong nhà sàn Bác Hồ”. Mọi người tương đối yên tâm vì biết Bác đã ưng sản phẩm của mình.

Vào một ngày giáp Tết Ất Tỵ (1965), đồng chí Trần Vĩnh Xương đang ở nhà thì có chiếc xe con đến đỗ trước cửa. Một người khách xuống xe, xách theo hai con cá mè khá to. Đó là đồng chí Vũ Kỳ, người giúp việc của Bác, đem quà của Người đến tặng. Và thật cảm động, đó là chính là những con cá do Người chăm nuôi hàng ngày trong ao, cạnh nhà sàn. Nhân đó, đồng chí Xương đã mời cán bộ, công nhân trong nhà máy đến liên hoan và cùng chia sẻ món quà đầy ý nghĩa của Bác.

Chiếc gường đó đã được Bác dùng trong suốt những năm chống Mỹ cứu nước, cho đến ngày đi xa. Nó đã trở thành một di vật thiêng liêng trong căn nhà sàn bình dị của Người. Nó không chỉ là sản phẩm riêng của tác giả Trần Vĩnh Xương của Nhà máy Cơ khí Nội thương, mà còn là sản phẩm của một đức tính: cần kiệm, giản dị đến mực thước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

5. Dân chủ mà thành “quan chủ”

Ngay từ khi chưa giành được chính quyền, Bác Hồ đã dự báo trước căn bệnh “quan liêu” sẽ xuất hiện, sẽ làm xói mòn “cơ thể” một số cán bộ, một số cơ chế tổ chức, dẫn đến tai hại cho cả một xã hội.

Hôm đầu tiên về Hà Nội, tháng 8 năm 1945, Bác đã nhắc khéo một vài “quý vị” “đã ra vẻ người thành phố, ra vẻ cán bộ rồi đấy”. Trong kháng chiến chồng Pháp trong sách “Sửa đổi lối làm việc”, mỗi khi có hội nghị, gặp gỡ cán bộ cấp cao ở Trung ương, cấp cuối cùng ở thôn xã, bao giờ Bác cũng nhắc “cán bộ là đầy tớ của nhân dân”. Bác nghiêm khắc phê bình lối làm việc “quan liêu mệnh lệnh, xa rời quần chúng” lên mặt quan cách mạng “khắc hai chữ Cộng sản lên trán” ra vẻ ta đây…

Hòa bình lập lại trên miền Bắc được vài năm, ở Hà Nội xuất hiện chế độ tem phiếu. Những bà nội trợ trong thời gian ấy cứ bì đầu lên vì những phiếu, những số A, B, C, 1, 2, 3… có những ông chồng giáo sư, bác sĩ… cứ nghe “đức phu nhân” trình bày “giá trị, tác dụng” của các ô giấy nhỏ ấy cũng lắc đầu lảng tránh “tôi xin chịu… không hiểu nổi, không nhớ nổi”…

Có phiếu bìa đỏ mua ở cửa hàng cung cấp cho cán bộ “cao”, bìa xanh cho cán bộ “vừa”, bìa trắng cho nhân dân… Lại có bìa mua ở cửa hàng đặc biệt. Lại còn bìa dành cho cán bộ được mua ở cửa hàng quốc tế mặc dù có cán bộ “cả đời” cũng không bước chân vào xem trong đó có gì – có thể vì không thích, vì không đủ tiền; trong khi đó có một loại “con buôn” lại vào, ra “thì thọt” kiếm chác được!

Tháng 5 năm 1969 trong một lần làm việc với một nhà khoa học, những vấn đề tem phiếu cho các cấp “quan cán bộ” ấy đã được Bác lắng nghe. Bác yêu cầu cho dẫn chứng cụ thể các thể thức bán hàng, phục vụ quá phiền phức tại Hà Nội.

Bác không vui quay lại hỏi Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Nội thương. Bác lại hỏi Bí thư Thành ủy Hà Nội. Biết chắc chắn tình hình đó đã có khá lâu, Bác lắc đầu:

- Dân chủ mà thành ra quan chủ. Hà Nội mà còn nhiều quan như vậy sao!

Tất cả từ Thủ tướng đến nhà khoa học, ngồi im nghẹn ngào, xúc động không trả lời được Bác.

6. “Ông kiến” nhà sàn của Bác

Năm 1958, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh được Văn phòng Phủ Chủ tịch mời lên gặp Bác.

Hôm ấy, Bác mặc bộ quần áo bà ba, chân đi đôi guốc mộc. Sau khi mời đồng chí Ninh ngồi. Bác nói ý kiến của mình về ngôi nhà mà Trung ương đã quyết định xây để Bác ở. Bác dặn nhà mới sẽ làm theo kiểu nhà sàn Việt Bắc, loại gỗ gì, tầng dưới thế nào, chỗ làm việc của Bác ra sao, cặn kẽ, cụ thể. Khi nói đến hành lnag quanh sân, Bác bê chiếc ghế mây ra để ngang, giơ tay làm cữ, nói:

- Hành lang chú làm rộng cho Bác như thế này, để khi Bác ngồi đọc sách, có ai qua lại đều thuận lợi. Ý kiến chú thế nào? Có được không?

Đồng chí Ninh thưa với Bác là “được” và xin phép ra về. Bác dặn thêm là phải hết sức tiết kiệm. Sau đợt đi công tác về, Bác đến xem nhưng không ai nghe thấy Bác nói gì. Hôm sau, Bác bỏ tiền riêng của mình nhờ Văn phòng tổ chức một buổi liên hoan ngọt. Bác mời đồng chí Ninh và một số công nhân làm nhà cho Bác tới dự ngay gian dưới ngôi nhà sàn mới dựng xong. Đây là bữa tiệc đầu tiên “khánh thành công trình” nhà sàn của Chủ tịch nước. Bác giục mọi người ăn kẹo, uống nước. Bác tặng mỗi người một huy hiệu hình Bác. Đến lượt đồng chí Ninh, Bác nói:

- Các chú làm như thế là nhanh, tốt, nhưng còn một khuyết điểm. Chú có biết khuyết điểm gì không?

Đồng chí Ninh thưa với Bác:

- Thưa Bác, so với lời Bác dặn thì có tốn kém đôi chút ạ.

Bác gật đầu:

- Chú nói đúng. Nước ta chưa giàu, dân ta còn chưa đủ nhà ở. Bác ở thế là tốt lắm rồi…

Sau bữa tiệc, Bác mời anh em ra chụp ảnh chung với Bác. Nhìn quanh, thấy đồng chí Ninh, Bác vẫy:

- Còn “ông kiến” nữa, đến đây!

Tất cả cười ồ lên, vui vẻ, phấn khởi trong niềm hạnh phúc riêng của mình…

Đồng chí Ninh kể lại: “Ban đầu tôi cho rằng mình là “kiến trúc sư” nên Bác gọi là “ông kiến” cho gọn, cho vui. Mãi về sau có người nói rằng gọi “ông kiến” là tiết kiệm được hai chữ “trúc sư”. Mà kiến là hay leo, leo thang. Tôi đã “leo thang” trong việc xây nhà sàn cho Bác, không tiết kiệm nên Bác gọi thế!”

7. Vẽ ảnh Bác Hồ

Năm 1954, bộ đội trú quân ở gia đình có tặng bố anh một bức tranh vẽ Bác Hồ. Trong tranh vẽ một bà mẹ bế em bé miền Nam đang cầm một lá cờ đỏ ở giữa có hình ngôi sao, trong ngôi sao có hình Bác hồ. Bên cạnh hai mẹ con là các anh bộ đội bà lô khoác vai chuẩn bị lên đường tập kết. Phía dưới bức tranh có hai câu ca:

Quân dân chung một Bác Hồ

Bắc Nam chung một cơ đồ Việt Nam…

Sau đó, bọn ngụy quân, ngụy quyền đi lùng sục khắp thôn xóm thiêu hủy hết những cái gì là của cách mạng để lại. Gia đình anh cuộn tròn bức tranh bỏ vào một cái chai giấu vào giữa bụi tre vườn sau nhà. Thỉnh thoảng cả nàh lại lấy ra xem. Anh nhớ như in đường nét của bức tranh đến mức có thể vẽ lại đúng như hệt mà không cần nhìn vào “bản gốc”. Bức tranh ít lâu sau bị bom phá hủy cùng với cả bụi tre.

Khi đã là bộ đội giải phóng, một lần anh về vận động phong trào ở một vùng giáp ranh. Hôm ấy, đồng bào đang làm lễ mừng thọ Bác, một tên mật vụ giả danh dân thường đứng lên nói:

- Thế hệ ông Hồ đã qua rồi. Thế hệ này là của quốc gia. Thử hỏi trong đám thanh niên mới lớn lên này, có ai còn chút xíu nào hình ảnh của cách mạng không?

Anh đứng bật dậy đáp:

- Có! Có nhiều.

Anh yêu cầu một viên phấn trắng rồi tiến đến cái bảng đen vẽ rất nhanh một chân dung Bác Hồ, không quên ghi hai câu thơ mà anh đã thuộc làu dưới bức tranh anh bộ đội đã tặng cho gia đình năm trước…

Đồng báo hoan hô vang dậy… Trong những năm bị bắt bị đày ra Côn Đảo, anh vẫn vẽ hình Bác lên mặt đất, mặt cát để anh em nhìn Bác cho đỡ nhớ. Năm 1973, anh mới được trao trả tại Bồng Sơn, Bình Định…

Không biết anh tên thật là gì? Hiện có còn và sống ở đâu?

8. Cán bộ đấy

Năm 1950, Bác Hồ lên đường ra chiến dịch. Là Chủ tịch nước, tuy tuổi đã 60, nhưng Bác không muốn chỉ ở hậu phương chăm lo công việc. Bác thương chiến sĩ, thương dân công, muốn giúp đỡ bộ đội, cán bộ, để giành thắng lợi chắc chắn cho “chiến dịch quan trọng này” nên Bác ra mặt trận. Tự coi mình là một chiến sĩ, Bác từ chối không đi ngựa, Bác tự mang vác lấy đồ dùng, tài liệu, tìm lá ngụy trang, đào hố… coi đó là quyền được lao động của mình.

Dân công ra tiền tuyến, vai người nào cũng khiêng đạn nặng trĩu, gánh sọt lương thực oằn đòn gánh. Và ai cũng còn quấn quanh mình một ruột tượng gạo to.

Bộ đội thì vai vác súng, quàng thêm bao gạo, lưng còn đeo nào lựu đạn, nào túi đạn…

Một buổi sáng, đoàn “phụ tử binh” của Bác gặp một người. Anh ta đeo một xà cột nhỏ, bên sườn là một khẩu súng ngắn. Sau lưng là một chiếc ba lô, vừa nhỏ, vừa xinh, vừa lép kẹp. Một mảnh vải dù phấp phới.

Trên vai, tay vung vẩy một chiếc gậy nhỏ. Không thấy quấn bao gạo: Anh ta bước nhẹ tênh.

Bác dừng lại, nhìn theo người đó, vẻ mặt không vui. Hồi lâu, Bác nói:

- Cán bộ đấy!

Đồng chí Đội trưởng cảnh vệ nhìn Bác vừa thương Bác vừa xót xa cho cái ông cán bộ, không biết làm gương, không làm được điều mà đến như Chủ tịch nước vẫn đang làm khi đã là một người lính ra mặt trận!

9. Tâu bệ hạ

Năm 1958, một nhà điêu khắc người Đức chuyên nặn tượng các chiến sĩ cách mạng được Bác Hồ đồng ý mời làm việc ở Phủ Chủ tịch. Cùng được nặn tượng Bác có mấy họa sĩ.

Các họa sĩ Việt Nam, người cao vừa phải nên đi lấy thước đo, ngồi vẽ… cũng vừa tầm nhìn lên chỗ Bác. Duy có anh bạn nước ngoài vì đưa luôn dụng cụ nghề nghiệp làm ngay tại chỗ, người lại cao lớn nên tư thế làm việc không được thoải mái, luôn luôn phải còng lưng xuống, nhìn phải, nhìn trái, nghiêng nghiêng, ngó ngó.

 

Sau ngày đầu làm việc, thông cảm với bạn, các đồng chí Việt Nam mang một cái bục, đặt bộ bàn ghế của Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đấy. Nhà điêu khắc Đức ngắm nghía mãi, ước lượng tầm nhìn, phấn khởi lắm.

Sáng hôm sau, tốp họa sĩ định đến thật sớm để “trình bày” với Bác, nhưng khi đến nơi đã thấy Chủ tịch có mặt ở nơi làm việc rồi.

Đặt một chân lên bục, Bác vui vẻ hỏi các họa sĩ:

- Các chú có biết ngày xưa người ta xưng với vua thế nào không?

Chẳng hiểu câu chuyện đi về đâu mà lại dẫn đến “Vua” thế này, nên các vị khách đều lúng túng. Mãi sau, họa sĩ Trần Văn Cẩn cũng trả lời được:

- Thưa Bác, thần dân xưng với vua là “tâu bệ hạ” ạ.

Bác gật đầu rồi lại hỏi: - Thế các chú muốn Bác “làm vua” hay sao mà lại mang “cái bệ” này đến?

Biết rằng Bác nói vui nên tất cả đều im lặng, trong bụng nghĩ rằng có lẽ rồi Bác cũng thông cảm cho.

Bác nói tiếp:

- Các chú nên nhớ rằng dù là Chủ tịch nước Bác cũng chỉ là đầy tớ của nhân dân, phải phục vụ nhân dân vô điều kiện.

Nhìn về phía các họa sĩ Diệp Minh Châu, Trần Văn Lắm và anh bạn điêu khắc người Đức đang lo ngại, Bác vui vẻ nói với cả đoàn:

- Thôi, để các chú vui lòng, Bác cũng “thượng đế”.

10. Đừng buộc mọi người phải làm theo ý mình

Thanh niên là tờ báo do Bác Hồ sáng lập, chủ biên, quán lý và tổ chức phát hành tại Quảng Châu trong những năm 1926-1927.

Thanh niên số 65 có đăng bài “Hy sinh” mà các nhà nghiên cứu sơ bộ kết luận là do Bác viết. Tring bài có đoạn : “ làm cách mạng phải hy sinh, hy sinh quyền lợi… hy sinh ý kiến. Đã ra làm việc công mà còn giữ tình riêng thì chưa biết hy sinh”.

Nhiều cán bộ cấp cao đến anh em chiến sĩ cảnh về đều nhận thấy: “Bác chẳng hề ép buộc ai theo ý riêng của mình”. Phải chăng đó là tầm vóc tư duy cao cả của Bác? Là lòng nhân từ bao dung độ lượng? Là sự tôn trọng thật lòng “dân chủ” đối với người khác? Là sự dám hy sinh, biết hy sinh?

Một lần Bác đến thăm công trường Việt trì. Ánh nắng đầu xuân bừng sáng sau một cơn mưa nhẹ, Bác bước đi khoan thai, đẹp là thế, anh cán bộ nhiếp ảnh chạy theo, quay đi quay lại vẫn chưa “ghi” được kiểu nào. Anh ta chạy đến Bác, kéo áo Bác, xin phép Bác dừng chân để chụp ảnh. Nhiều người đi theo xì xào “sao làm thế”, “gan to thật”

Bác tươi cười, nhẹ nhàng nói:

- Việc Bác, Bác làm. Việc chú, chú làm. Sao chú lại bắt Bác làm theo ý chú? - Tuy nói vậy mà Bác vẫn thương. Bác dừng lại nghe một kỹ sư báo cáo. Anh cán bộ nhiếp ảnh chụp được cả ảnh, được cả một bài học nhớ đời.

Trích trong 120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh


Số lượt người xem: 5796 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày