SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
1
6
4
6
1
6
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Thứ Năm, 25/10/2012, 15:05

Những câu chuyện kể về Bác - Kỳ 16

 

 

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ ở Chiến khu Việt Bắc năm 1951

1. Gặp Bác trong khu rừng già

Năm 1950, sau những chiến thắng liên tiếp, bộ đội Khu 3 được cử một đoàn đại biểu lên Việt Bắc dự Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quân.

Trong đoàn có trai, có gái. Chị Tám là thương binh, người gầy yếu nên mỗi lần qua suối, các anh giao liên bảo để các anh cõng, nhưng chị lại ngượng. Một anh nói:

Đồng chí còn phong kiến lắm, Bác Hồ dạy chúng ta phải coi đồng chí như anh em ruột thịt mà…

Đoàn ngày đi đêm nghỉ, lúc mệt quá thì lại “hò lơ hò lờ” hoặc động viên nhau “cố lên, sắp được gặp Bác rồi”.

Một buổi trưa, anh em phải leo lên một dốc cao. Người thì túi, người thì ba lô, kẻ quang gánh ì ạch leo dốc. Bỗng phía đầu dốc có tiếng ồn ào, chân người chạy rầm rập, chen vai xô lấn ngược lên…Thì ra có một ông già, mặc quần áo nâu, đội mũ lá cọ vành rộng, vai vắt khăn nhuộm màu xanh “phòng không”, tay cầm một cái quạt cắt từ lá cọ ra đang phe phẩy. Ông già còn đi đôi guốc mộc dưới chân, đã mòn vẹt.

Bỗng ai đó hô lên:

- Bác Hồ! Đúng Bác Hồ rồi…

Thế là cả đoàn đổ xô đến. Bác hỏi đoàn tỉnh này tỉnh kia rồi nhắc:

- Đoàn Thái Bình đâu?

- Thưa Bác, kia ạ…

- Bác không chờ anh chị em đến mà tự đi tới. Nguyễn Thị Chiên vừa đặt đôi sọt xuống thì Bác đã đứng trước mặt, bắt tay từng người, hỏi:

- Cháu Chiên đâu?

Không hiểu sao, chị Chiên bàng hoàng cả người, run lên rồi òa khóc, khóc rất to:

- Thưa Bác, cháu đây ạ, cháu là Chiên đây ạ!

Thế rồi chị khụy xuống, ôm lấy chân Bác nức nở.

Các anh trong đoàn nói với nhau:

- Đánh giặc thì gan lì, bị địch bắt, tra tấn cũng không khóc, thế mà nay lại khóc như con nít…

Bác cúi xuống, nâng chị Chiên, mắt đỏ hoe, ôn tồn nói:

- Cháu nín đi, nín đi! Đừng khóc nữa! Đứng dậy, đứng dậy nào…

Bác Hồ khẽ vuốt tóc chị, hỏi:

- Bố mẹ cháu mất rồi, cháu ở với ai ở quê bây giờ ?

Thế là chị Chiên lại nấc lên, khóc nữa. Một đồng chí khác phải trả lời thay chị.

Bác bảo:

- Thôi, lau nước mắt đi. Cháu đội nón vào. Nắng ở đây không như ở đồng bằng đâu.

Và hình như để không khí đỡ “nặng nề”. Bác đội mũ lên đầu, cười hỏi anh chị em:

- Thế nào? Bác đội mũ trông khác trong ảnh các cháu thấy chứ...

Bác bắt tay từng người rồi nói:

- Đi nắng về, không được xuống suối tắm vội. Bây giờ vào cơ quan nghỉ ngơi ăn cơm, ngủ cho đẫy giấc…. Bác phải đi làm việc đây… Tạm biệt các cháu.

Tất cả anh chị em trong đoàn đứng nhìn theo Bác cho đến lúc Bác đi khuất không nhìn thấy nữa mới thôi. Đôi mắt chị Chiên vẫn chưa ráo nước...

2. Bác Hồ làm công tác dân vận ở Tân Trào

 Trong vai trò Ông Ké, chiếc khăn mặt vắt vai, Bác xuất hiện ở rất nhiều nơi, có khi tham gia lao động với bà con dân bản, vừa làm vừa nói chuyện vui vẻ, thoải mái. Có lúc Bác còn vào cả các gia đình, thăm già hỏi trẻ, hướng dẫn cách giữ gìn vệ sinh. Khuyến khích học chữ quốc ngữ, giải thích chương trình Việt Minh, nói chuyện tình hình trong nước và thế giới... Ai cũng quý mến Ông Ké, nghe theo lời dạy bảo của Ông. Lâu lâu không được gặp Ông Ké, mọi người lại hỏi thăm, nhiều người già gặp tôi, rỉ tai hỏi: “Ông Ké là người như thế nào?”. Tôi chỉ cười, nhưng trong lòng thì lại nghĩ sao Bác thân tình đến thế. Học rộng, hiểu nhiều, đi khắp thế giới mà về với dân ta như về với người nhà. Còn bản thân mình, vốn dân sở tại mà đôi khi còn cảm thấy xa cách với dân. Nhân dân quý mến Bác tới mức nhiều người bảo: “Tôi chưa hiểu cách làm lắm đâu, 10 điểm chương trình Việt Minh cũng còn chưa hiểu hết, nhưng tôi tin Ông Ké”.

Tuy nhiên, để đề phòng mọi bất trắc, Bác đi đâu chúng tôi đều phải cho người theo dõi bảo vệ. Các đồng chí Lý, Vương, Cắt... được giao trách nhiệm chính về việc này. Nhưng Bác dặn chúng tôi là các chú muốn làm gì thì làm chứ không được biến Bác thành con người đặc biệt, xa cách với dân. Hồi ấy, Bác có nói một ý mà mãi mãi sau này chúng tôi mới hiểu hết là chính sự gần gũi dân như thế là cách bảo vệ tốt nhất.

Có một lần tự nhiên Bác “biến mất”. Chúng tôi lo sợ toát mồ hôi, tỏa người đi tìm kiếm. Vào sâu trong làng thì thấy Bác đang thoải mái ngồi vót những nan tre với một ông cụ, hai người vừa làm vừa nói chuyện ra chiều tâm đắc lắm. Thấy chúng tôi, Bác nháy mắt ra hiệu cứ để cho Bác tự nhiên. Tối về, nghe Bác kể chuyện lại, thì ông cụ ấy cho cháu tìm mời bằng được Ông Ké đến nói chuyện vì cách đó mấy hôm, đi ăn giỗ bên ngoại, nghe tin là bọn địch đang có kế hoạch ám hại một lãnh tụ Việt Minh quan trọng vừa mới về Tân Trào và treo giải thưởng to lắm.

Bọn chúng đã cho một lực lượng lớn xâm nhập vào vùng này để chờ thời cơ ngoài đánh vào, trong đánh ra, tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng. Cụ già không biết kế hoạch đó đã bị chúng tôi bóp chết ngay từ trong trứng. Nhưng dù sao đó cũng là một thông tin quan trọng để mình hiểu rõ kẻ địch hơn, có phương án bảo vệ một cách toàn diện hơn.

3. Bác thăm chiến sĩ đảo Vạn Hoa

 Một lần khi gặp các chiến sĩ Hải quân trẻ tuổi ở đảo Vạn Hoa, Bác hỏi ngay:

- Các cháu có cá ăn không?

- Thưa Bác không ạ! - Một chiến sĩ trả lời rất hồn nhiên và chân thật. Có lẽ cũng bởi câu hỏi khá bất ngờ. Các chiến sĩ ta đã nói đúng sự thật với Bác.

Bác quay lại hỏi đồng chí Tư lệnh Hải quân:

Tại sao ở cạnh biển mà bộ đội không có cá ăn? Các chú chỉ huy có khuyết điểm.

Bác lại hỏi: “Có rau ăn không?”, một chiến sĩ khác trả lời.

- Thưa Bác, tạm đủ ạ!

Sau đó, Bác chỉ thị tập hợp bộ đội để Bác nói chuyện. Câu đầu tiên Bác lại hỏi:

- Bao nhiêu lâu các cháu mới được xem văn công một lần?

Một cán bộ đứng lên:

- Thưa Bác, từ khi ra đảo chưa được xem lần nào.

Bác “à” lên một tiếng ngạc nhiên, rồi hỏi tiếp:

- Thế còn phim

- Thưa Bác, 5 - 6 tháng mới có một tối.

Bác quay lại chúng tôi, hỏi:

- Hôm nay có ông tướng đi cùng đây, ông nghĩ thế nào?

Tôi mạnh dạn thưa ngay với Bác:

- Cháu sẽ sửa chữa khuyết điểm.

Không, chú nói còn chung chung quá. Bao lâu nói cho rõ.

Thưa Bác, cứ 6 tháng lo cho anh em được xem một tối văn công và 3 tháng một tối phim.

Bác cười gật đầu đồng ý. Còn tôi, hứa với Bác rồi mà lại thấy lo làm sao thực hiện được để Bác vui. Bởi vì niềm vui của Bác có gì khác đâu, chính là được thấy bộ đội và nhân dân sống đầy đủ, hạnh phúc.

4. Một kỷ niệm về Bác

 Trung tuần tháng 4 năm 1946, tôi được lệnh vào nhận nhiệm vụ mới ở miền Trung Bộ. Khác với những đoàn quân Nam tiến trước đó – mỗi chuyến đi có đến hàng trăm, hàng nghìn người, chuyến này có một mình tôi. Và không hiểu sao lại có cả quân nhạc tiễn đưa rất oai nghiêm, giống như sáu tháng trước đó tôi từ chiến khu về Hà Nội. Nhớ hôm đầu tiên gặp Bác ở 48 Hàng Ngang, Bác nói vui: Chú về Hà Nội thì kèn trống đón mừng inh ỏi, đi đến đâu cũng nghe nói đến chi đội Quang Trung. Còn Bác thì đến lúc này vẫn chưa ai biết Bác là ai và ở đâu. Ở Việt Bắc, Bác là cụ Ké, còn về đây Bác là cụ Già.

Buổi tối trước hôm lên đường, Bác gọi tôi lên phòng làm việc, hỏi thăm tình hình gia đình, hỏi tôi có gì khó khăn. Tôi thưa với Bác là tôi đã chuẩn bị sẵn sàng. Trong phòng chỉ có hai bác cháu. Và tự nhiên tôi bỗng cảm thấy bùi ngùi. Ngày mai xa Bác rồi. Gần một năm được sống bên cạnh Bác, được Bác chăm sóc yêu thương, ân cần dạy bảo, giống như một người cha đối với một người con. Thời gian gần một năm được sống gần Bác, tôi như được qua một trường huấn luyện đặc biệt hiếm có. Tôi được Bác chú ý kèm cặp từ việc nhỏ đến việc lớn, từ cách suy nghĩ, phân tích tình hình đến tác phong cụ thể cần có của một cán bộ chỉ huy.

Bây giờ, trước lúc tôi đường nhận nhiệm vụ ở chiến trường xa xôi, Bác nói với tôi về nhân cách của một người làm tướng. Bác nói có nhiều loại tướng: mãnh tướng như Trương Phi, dũng tướng như Quan Vân Trường, hổ tướng như Triệu Tử Long... Các loại tướng như thế đều tốt, đều cần vì nhân dân ta sắp phải bước vào cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù hung bạo. Nhưng theo Bác, chúng ta phải có nhiều nhân tướng, vì cuộc chiến đấu của chúng ta là cuộc chiến đấu vì con người. Và Bác giải thích: Nhân tướng là người tướng hiểu con người, biết quý con người, biết dùng người và được mọi người yêu quý. Chỉ có những người tướng như thế mới trăm trận trăm thắng được.

Lời dạy đó của Bác Hồ mãi mãi nằm trong trái tim tôi suốt cuộc đời binh nghiệp.

5. Bát cháo chia ba

 Một chiều mùa hè năm 1952, Bác đến thăm trường Tuyên huấn Chính trị Trung ương. Bấy giờ trường mới chuyển đến bản Lời, gần quán Vuông, Thái Nguyên.

Sau khi nói chuyện với học viên, Bác về “nhà khách”, một túp lều tre nứa, lợp lá gồi nghỉ đêm để sáng mai đi sớm.

Bí thư đảng ủy trường là đồng chí Võ Hồng Cương cùng đồng chí phụ trách bảo vệ trường đem chăn màn đến ngủ sát bên nhà, hẹn cùng dậy sớm lo bữa ăn sáng để Bác dùng trước khi lên đường, không biết về đâu, xa hay gần.

Bàn bạc mãi mới quyết định thịt một con gà giò “tăng gia” để nấu cháo (gà to sợ Bác phê bình, gà bé quá lại không đành lòng).

Hai quan “hỏa đầu quân” tán chuyện mãi, ngủ quên lúc nào không biết. Chẳng có giờ chính xác, nên cứ mổ gà sớm, vo gạo, đặt lên bếp. Khoảng gần một giờ sau, nồi cháo đã chín. Đồng chí Cương cời than ủ nồi cháo cho nhừ. Chờ mãi, chờ mãi, trời vẫn chưa sáng. Hai anh em không dám đi nằm, sợ ngủ quên bèn dựa lưng vào nhau gật gà, gật gù.

Bỗng đồng chí cảnh vệ của Bác lay lay. Bấy giờ “anh nuôi” mới choàng dậy. Nhìn vào nồi cháo thì ôi thôi cháo đã cạn, chỉ còn độ một bát. Không biết tính toán sao đây thì đồng chí cảnh vệ mách đồng chí Cương:

- Anh cứ mang bát cháo này lên, mời Bác dùng và bảo chúng tôi đã ăn dưới này với các anh rồi.

Bí thư mừng quá:

- Thật là sáng kiến…

Anh bưng tô cháo, một cái bát con, một thìa nhỏ và một lọ muối tiêu lên nhà khách.

Bác hỏi:

- Còn hai chú kia đâu?

Đồng chí Cương thưa với Bác mưu mẹo đã bàn…

Bác cười bảo:

- Chú xuống lấy thêm cho Bác hai cái bát, hai cái thìa, rồi bảo hai chú lên ăn với Bác. Có nhiều ăn nhiều, còn ít ăn ít, cùng nhau ăn cho ấm bụng.

Bí thư đỏ mặt, đành nói dối tiếp:

- Thưa Bác hai đồng chí kia đang ăn.

Bác lại cười, lắc đầu nói:

- Cháo này các chú chắc ngủ quên, để cạn nên chỉ còn chừng này thôi. Chú gọi hộ Bác hai chú cảnh vệ đi.

Hai đồng chí cảnh vệ đành phải lên… Bác sẻ bát cháo đặc chia ba phần đều nhau rồi nhận một bát ăn rất ngon lành.

Đứng dựa cột nhà khách, chủ nhà, cấp dưỡng, đồng chí Cương nhìn Bác mà nước mắt rưng rưng...

6. Nhớ lời Bác dạy

 Một ngày đầu mùa thu năm 1959 Bác Hồ đến thăm một đơn vị hải quân. Tôi có vinh dự được góp phần điều khiển con tàu đưa Bác đi thăm một số đảo ở vùng Đông Bắc.

Đúng 8 giờ sáng Bác đến. Bác từ trong xe bước ra, đội mũ cứng, mặc bộ quần áo ka-ki bạc màu, chân đi dép cao su. Bác lướt nhìn chúng tôi trìu mến, dịu dàng như một người cha. Đôi mắt sáng hiền từ, da dẻ hồng hào, chòm râu trắng như cước của Bác rung rinh trước gió.

Tôi nhớ mãi câu hỏi đầu tiên của Bác:

- Các chú có khỏe không? Đã chuẩn bị đi biển chưa?

- Dạ thưa Bác, chúng cháu khỏe, mời Bác xuống tàu đi ngay ạ. Tôi thưa với Bác như vậy.

Bác mỉm cười với chúng tôi, cười rất vui. Chúng tôi đón Bác xuống tàu. Bác đi một lượt từ nhà bếp, khoang ngủ của chiến sĩ đến đài chỉ huy, khoang máy. Bác khen bộ đội hải quân ăn ở ngăn nắp, gọn gàng, giữ gìn tàu sạch sẽ. Đến buồng lái, Bác hỏi:

Phòng này là phòng gì?

- Thưa Bác, đây là buồng hàng hải ạ!

- Hàng hải là gì?

- Thưa Bác, là buồng lái ạ. Tôi ngập ngừng đáp lại. Bác nhìn tôi âu yếm.

- Sao không gọi là buồng lái cho dễ hiểu.

Tôi còn đang bối rối chưa trả lời được, Bác hỏi tiếp.

- Chú giới thiệu với Bác xem trên tàu có những bộ phận gì?

- Dạ thưa Bác, trên tàu có 5 ngành: hàng hải, súng pháo, thông tin, cơ điện và thủy vũ ạ.

Bác nhìn tôi cười và hỏi bằng một giọng rất vui:

- Thủy vũ có phải là nơi để cho bộ đội nhảy múa ở dưới nước không?

- Thưa Bác, thủy vũ bao gồm những dụng cụ và vũ khí dưới nước như: thủy lôi, bom chìm và dụng cụ cắt lôi ạ.

Tôi vừa nói dứt lời, Bác nhìn chúng tôi ân cần căn dặn:

- Các chú xây dựng hải quân thì phải học tập các nước anh em là đúng. Nhưng không phải học thế nào thì làm y nguyên như thế, mà phải biết vận dụng vào điều kiện nước ta sao cho thích hợp, kể cả việc dùng chữ. Chữ của ta giàu lắm, chứ ta không thiếu chữ đâu.

Chúng tôi đứng lặng nghe Bác nói.

Vâng theo lời Bác, chúng tôi đã sửa lại một số danh từ kỹ thuật nước ngoài cho phù hợp với tiếng nói của dân tộc ta. Trong công tác giảng dạy, chúng tôi đã cố gắng nghiên cứu và biên soạn những tài liệu kỹ thuật, chiến thuật mang màu sắc riêng của hải quân Việt Nam.

Bây giờ nghĩ lại, chúng tôi càng thấy thấm thía những lời dạy của Bác năm đó.

7. Việc này chú Văn phụ trách

 Bác nhận định: “Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bấy giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên. Nếu phát động đấu tranh mà mỗi khi địch đến, nhân dân lại phải tản cư cả vào rừng núi, thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Phải làm sao, cứ hoạt động vũ trang mà dân cứ ở đấy mà sản xuất, chỉ cần tăng cường canh gác đề phòng không để địch bắt, hại những người hoạt động...”.

Rồi Bác đề ra một cách giải quyết: “Lực lượng vũ trang của ta hiện nay đã ít lại phân tán quá. Bây giờ nên tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Ta sẽ dùng hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng. Tác chiến phải nhằm gây được ảnh hưởng tốt về chính trị, do đó mà mở rộng cơ sở, phát triển lực lượng vũ trang. Chúng ta sẽ lập đội quân giải phóng...”.

Ngay trong buổi họp đó, tôi được chỉ định đảm nhiệm công tác này.

Rồi Bác hỏi:

- Việc này chú Văn phụ trách, chú Văn có thể làm được không ?

Tôi đáp:

- Có thể được

Tôi trình bày cơ sở chính trị và vũ trang tại vùng giáp giới hai tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, từ Nguyên Bình đến Ngân Sơn, Chợ Rã, từ Tĩnh Túc Phia U Ắc đến Phia Bi Póc. Cơ sở quần chúng tại vùng này rất tốt, qua suốt thời gian khủng bố của địch vẫn vững vàng, cơ sở lực lượng vũ trang cũng tốt.

Trước khi quyết định, Bác hỏi:

- Có thể tìm được một căn cứ “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”, mình còn yếu, địch mạnh, nhưng nhất định không để địch tiêu diệt, có thể như thế được không?

Tôi đáp:

- Có thể. Nhất định quân địch không thể tiêu diệt ta được.

Khi trả lời Bác như vậy tôi đã nghĩ đến sức mạnh vô cùng to lớn của đồng bào, nghĩ đến lòng yêu nước tha thiết, có thể hy sinh tất cả vì Tổ quốc của những người dân đã được Đảng giác ngộ. Lòng yêu nước và tinh thần hy sinh đó, tôi càng thấy rõ hơn sau những ngày khủng bố đẫm máu của quân thù.

Đêm hôm ấy chúng tôi nằm nghe Bác nói chuyện rất khuyết. Trên núi cao, cái rét của mùa đông đến sớm hơn. Trong căn lều lạnh giá, không đèn đóm. Bác và chúng tôi mỗi người gối đầu trên một khúc gỗ cứng. Bác phác ra những nét chính về đội Việt Nam Giải phóng quân, từ tổ chức đến phương châm hành động, và vấn đề cung cấp lương thực, đạn dược. Bác hướng dẫn cho tôi làm một bản kế hoạch. Bác dặn đi dặn lại nhiều lần: “Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được. Tổ chức của đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo”. Chuyện trò hào hứng đến 2, 3 giờ sáng...”.

8. Đôi chân Bác

 Đôi chân của Bác là đôi chân ngàn ngàn dặm. Chẳng có ai trong thời đại Bác lại đi nhiều đến thế. Chỉ nói riêng trong thời gian chống Pháp, ở Việt Bắc, Bác đi rất nhiều. Anh em bảo vệ phục vụ Bác kể: “Bác đi “khiếp” lắm, toàn đi bộ, thỉnh thoảng mới đi ngựa. Thoát đã từ Tân trào sang Thái, thoát đã lên Tuyên Quang, thoát ngược Bắc Cạn... Vừa đi vừa làm việc, viết báo, viết sách...” Cánh thanh niên theo được Bác còn đến “Tết”.

Thời gian ở Xiêm có ngày Bác đã đi bộ hơn 70km đường rừng. Bác đi quen, sải chân đều, đúng giờ là nghỉ, hết giờ nghỉ lại đi, dù mưa bão, hễ đã định đến đâu là đến bằng được, ít khi lỡ bộ đường vì chủ quan. Ai đi theo Bác mệt mỏi, Bác mách cho cách xoa chân, bóp chân bằng nước tiểu, nấu canh lá lốt rừng ăn cho đỡ đói... Còn đôi chân của Bác thì cứ như là chân thép.

Nhưng Bác lại hay thương anh em phải đứng lâu, đi nhiêu.

Một lần, các chiến sĩ quân đội được vào thăm Bác, xin Bác được chụp ảnh chung. Bác đồng ý, Bác mời đồng chí nhiếp ảnh tới. Để bảo đảm “ăn chắc”, anh xin phép Bác lấy chân máy ảnh đặt máy lên chụp. Chờ mãi mới mang được chân máy ra. Bác nói:

- Chú tìm được chân máy thì chân Bác gãy rồi...

Ai nấy đều vui vẻ hẳn lên, quên cả thời gian chờ đợi.

Lần khác, nhân dịp Bộ Quốc phòng chiêu đãi Đoàn đại biểu quân sự Liên Xô do Đại tướng P.Batốp dẫn đầu, Bác tới dự. Đồng chí Tổng tham mưu Trưởng quân đội ta đọc diễn văn bằng tiếng Việt một đoạn rồi ngừng. Một cán bộ đối ngoại dịch ra tiếng Nga nên mất nhiều thời gian.

Bác quay sang đồng chí Bộ trưởng Quốc phòng:

- Bài dài quá, mình đứng rục cả chân.

Đồng chí Văn phân trần:

- Thưa Bác, hôm nay có các đại biểu quốc tế, có Ủy ban giám sát đình chiến nên xin phép Bác...

Sau đó đồng chí nói riêng với một cán bộ. Đồng chí này viết một tờ giấy nhỏ chuyển tới đồng chí Tổng tham mưu trưởng.

 

 

Từ đây, chỉ đọc bản tiếng Nga. Cuối cùng đồng chí Tổng tham mưu trưởng mới nói lại bằng tiếng Việt, cám ơn quan khách....

 

Tiếng vỗ tay chưa dứt, Bác đã cầm một cốc rượu nhanh nhẹn đi chúc những người đứng xunh quanh. Sau đó người cầm cái dĩa, giơ lên nói:

- Bắt đầu thôi! Không thì mỏi chân lắm...

Thật ra là Bác nói hộ mọi người.

9. Còn dân còn nước

 Năm 1945, sau khi nhân dân ta giành được độc lập theo kế hoạch giải giáp quân đội Nhật đã đầu hàng, quân đội Tưởng lốc nhốc vào nước ta, đứng chân ở nhiều tỉnh lỵ, từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc.

Bác Hồ và Chính phủ đã chỉ thị phải hợp tác thành thật với họ, tránh khiêu khích để sinh ra lộn xộn, xung đột.

Tuy chỉ thị đã ban hành, nhưng Bác “sợ” vẫn chưa chắc chắn, nên Bác đã triệu tập một số Chủ tịch tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Giang, Sơn Tây, Lạng Sơn, cả Hà Nội và Bắc Bộ Phủ.

Các đại biểu được dịp báo cáo với Bác những hành vi ngang ngược, cướp của, tống tiền, dung túng cho bọn Việt Cách, Việt Quốc làm bậy, âm mưu lật đổ chính quyền, chiếm đóng một số nơi.

Bác nói:

- Họ nhân danh Đồng minh vào nước ta tước vũ khí quân đội Nhật. Nếu ta để xảy ra chuyện gì đó, họ sẽ lấy cớ làm khó dễ cho ta…

Đại biểu Vĩnh Yên thưa:

- Thưa Bác, ta thì muốn hữu nghị hợp tác nhưng họ lại muốn cướp đất của ta…

Bác giơ tay:

- Bác hiểu. Ta hữu nghị vì họ có 500 triệu dân, mà ta mới có 20 triệu, họ có 4 triệu quân lính mà ta mới đang xây dựng quân đội. Hữu nghị là hữu nghị như thế…

Không thấy ai phát biểu nữa, Bác nói:

- Các chú có thấy dân ta theo họ, hợp tác với họ không? Nếu dân ta không đứng về phía họ, thì ta dù có tạm thời không giữ được một số nơi, nhưng vẫn không mất nước. Vì còn dân thì còn nước. Dân là gốc của nước. Các chú làm sao để dân tin tưởng vào Chính phủ, nghe lời Chính phủ, tuân theo chỉ thị của Trung ương. Chú nào làm sai, phải chịu kỷ luật… Chú nào có ý kiến gì không? - Bác dừng nói, chờ. Không thấy ai “có ý kiến” nữa, Bác “tuyên bố” – giải tán hội nghị.

10. Không cứ phải là đảng viên

 Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong thành phần Chính phủ lâm thời do Cụ Hồ làm Chủ tịch, có nhiều trí thức trẻ đã được mời tham gia. Ông Nguyễn Văn Huyên – Tiến sĩ Văn khoa – Cử nhân Luật học, được giao giữ chức Tổng Giám đốc Đại học vụ (sau này là Bộ trưởng Bộ Giáo dục) khi ấy mới 37 tuổi.

Ngay thời gian đầu tiên, được Chính phủ giao trọng trách công tác văn hóa giáo dục “diệt giặc dốt” (là một trong ba thứ giặc lúc bấy giờ), ông Huyên không khỏi lo ngại, bởi vì dân ta 90% số người không biết chữ, vả lại điều kiện trường lớp, thầy, cô thiếu thốn vô cùng. Nhưng vốn là người xốc vác, hơn nữa ông lại còn trẻ, hăng hái, cho nên mọi khó khăn đều được giải quyết ổn thỏa. Phong trào “bình dân học vụ” mà ông phụ trách đã đạt được những kết quả mà cho đến nay mỗi khi nhắc đến ai cũng phải thán phục. Cụ Hồ rất hài lòng về vị Bộ trưởng của mình bởi vì ngoài những thành tích, ông Huyên còn là người do Cụ Hồ giới thiệu vào trong thành phần Chính phủ.

Thế mà có một lần, ông Huyên xin từ chức Bộ trưởng với lý do: ông không phải là đảng viên (đúng hơn là ông không tham gia đảng phái nào). Cụ Hồ không bằng lòng khi nghe tin ấy. Cụ đã gặp và động viên ông Huyên, Cụ nói: “Không cốt là đảng viên cộng sản hay không đảng, mà cốt là làm viếc có tốt hay kém, có hiệu quả hay không hiệu quả, điều đó mới quan trọng”. Nghe lời Cụ, ông Huyên lại tiếp tục làm việc, giữ chức Bộ trưởng Giáo dục cho đến những năm cuối đời.

Năm 1960, Chi bộ Văn phòng Bộ Giáo dục nhất trí đề nghị kết nạp ông Nguyễn Văn Huyên vào Đảng. Đề nghị đã được Đảng ủy cơ quan Bộ Giáo dục và Đảng ủy dân chính Văn phòng Trung ương đồng ý. Nhưng khi thông qua Ban Bí thư thì Cụ Hồ góp ý kiến rằng: “Để chú Huyên ở ngoài Đảng có lợi hơn là ở trong Đảng”. Biết vậy, ông Huyên rất xúc động, bởi vì ông nghĩ, Cụ Hồ rất hiểu ông và những người tri thức như ông, dù không đứng trong Đảng nhưng các ông đã suốt đời làm việc vì lợi dân, ích nước.

 

 

Trích trong 120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

 


Số lượt người xem: 4511 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày