SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
4
9
6
7
9
8
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Thứ Năm, 25/10/2012, 15:15

Những câu chuyện kể về Bác - Kỳ 19

 

Lễ tuyên ngôn Độc Lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2-9-1945

1. Tháng tám năm 1945 ở Hà Nội

Đầu năm 1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Hà Nội khởi nghĩa giành chính quyền, rồi lần lượt đến các tỉnh khác trong cả nước. Cuối tháng 8 năm 1945 Thường vụ Trung ương quyết định đưa Bác về Thủ đô Hà Nội để lãnh đạo, giữ vững và củng cố chính quyền non trẻ. Lúc ấy, Bác ốm và rất gầy. Chúng tôi mua ít tim gan nấu cháo cho Bác. Nhưng có thể do không may mua phải tim của lợn gạo nên Bác lại lên cơn sốt cao. Trên đường về Hà Nội có lúc mệt quá, Bác không đi được, anh em dùng vải và đòn tre làm cáng. Nằm trên cáng, người hầm hập nhưng Bác vẫn thấy vui vì đi tới đâu cũng thấy cờ đỏ sao vàng và đồng bào hào hứng hô vang: ''Ủng hộ Việt Minh'', “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm''. Chiều 25 tháng 8, về đến ngoại thành Hà Nội,  Bác dừng lại ở làng Phú Gia. Chiều tối chủ nhật, 26 tháng 8 năm 1945 đồng chí Trường Chinh đến đón Bác. Hà Nội hừng hực khí thế cách mạng. Khắp phố phường tràn ngập niềm hân hoan với cờ đỏ sao vàng. Ít ai để ý đến một chiếc xe cũ, màu đen chở Bác chạy từ phía Chèm dọc theo đê Yên Phụ, xuống dốc Hàng Than qua phố Hàng Giấy rồi rẽ Hàng Mã về đến trước số nhà 35 Hàng Cân. Xe đưa Bác vào cổng sau, rồi Bác lên thẳng gác 2 nhà 48 phố Hàng Ngang. Đây là ngôi nhà 3 tầng của ông Trịnh Văn Bô, một thương gia lớn của Hà Nội và là cơ sở của cách mạng. Nhà xây chắc chắn, rất tiện cho công tác bảo vệ. Tầng 1 và tầng 3 chủ nhà dành để ở và bán hàng. Còn tầng 2 dành cho cách mạng. Lúc này, chủ nhà chưa biết người cách mạng đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đi lên, đi xuống nhiều chủ nhà chỉ thấy một cụ già dáng người gầy nhưng nhanh nhẹn, có đôi mắt sáng lạ thường. Sau này chủ nhà mới biết ngôi nhà của mình có vinh dự được đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay chiều tối hôm sau, 27 tháng 8, tôi (tức Vũ Kỳ) được Trung ương chọn làm thư ký cho Bác. Bác thân mật hỏi tôi:

- Chú tên gì?

Tôi thưa:

- Cháu tên Cần ạ (tên của tôi hồi đó).

Có lẽ tôi xúc động nói không rõ nên Bác nghe thành Cẩn, Bác trìu mến bảo:

- Cẩn à, Cẩn là cẩn thận. Rất tốt.

Sáng hôm sau, Bác lại hỏi tên tôi, tôi thưa rất rõ:

- Cháu là Cần ạ.

Bác tỏ ra rất vui và nói ngay:

- Cần thì càng tốt. Cần là cần, kiệm, liêm, chính.

Đó cũng là niềm mong muốn của Bác về phẩm chất, đạo đức của người cán bộ mà những năm sau này mỗi dịp gặp cán bộ, mỗi khi đến thăm các lớp huấn luyện, Bác đều căn dặn mọi người phải thực hiện cần kiệm, liêm, chính.

Trong căn nhà 48 phố Hàng Ngang chủ nhà dùng căn phòng phía sau trên tầng 2 làm phòng ăn. Giữa phòng kê một chiếc bàn gỗ dài và to, quanh bàn có 8 chiếc ghế tựa đệm mềm. Bác dùng bàn này để làm việc với các đồng chí Thường vụ Trung ương. Cuối phòng kê một chiếc bàn tròn. Nơi đây Bác dùng làm bàn ăn. Trong cuộc sống hàng ngày, Bác không dành cho mình một sự ưu đãi nào. Bác là tấm gương sáng về đức tính giản dị của người cán bộ cách mạng. Bác thường ngồi làm việc trên chiếc bàn kê sát tường bọc dạ xanh màu lá mạ vừa đủ để tập giấy bút và chiếc máy chữ nhỏ Bác mang từ chiến khu về. Trong những ngày này, Bác dành nhiều thời gian và tâm trí cho việc soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Hàng ngày Bác dậy sớm tập thể dục sau đó ngồi vào bàn và đánh máy luôn bản thảo. Ban đêm, Bác cũng thức rất khuya, trầm ngâm suy nghĩ về những nội dung trong bản thảo Tuyên ngôn Độc lập. Sáng 29 tháng 8, Bác chuyển đến Bắc Bộ phủ làm việc, ở đây Bác tiếp tục hoàn chỉnh bản Tuyên ngôn Độc lập. Sau mấy ngày sốt, tuy sức khoẻ giảm sút trông thấy, nhưng sức làm việc của Bác thì vẫn phi thường. Đêm 29 tháng 8, Bác thức khuya hơn bình thường vì ngày 2 tháng 9 đã cận kề. Bác viết rồi lại sửa. Những lúc suy nghĩ căng thẳng nhất Bác thường đặt tay lên trán và đôi mắt sáng khi thì nhìn những dòng chữ như có hồn vừa được viết ra, khi thì nhìn vào đêm tối như tìm một điều gì đó mà chỉ riêng Bác mới hiểu.

Cho đến ngày 30 tháng 8, bản Tuyên ngôn Độc lập được dự thảo xong. Bác đưa ra tranh thủ ý kiến các đồng chí Trung ương.

Sáng 31 tháng 8, Bác hỏi tôi:

- Chú Cần có biết Quảng trường dự định họp mít tinh như thế nào không?

Rồi Bác bảo tôi vẽ phác bản đồ cho Bác. Xem bản đồ xong. Bác hỏi:

- Liệu được bao nhiêu người?

Tôi thưa với Bác:

- Được vài chục vạn người đấy ạ.

Bác hỏi tiếp:

- Thế các chú định bố trí để đồng bào đi vệ sinh ở đâu?

Tôi sững sờ trước câu hỏi của Bác và lúng túng không biết trả lời thế nào, thì Bác nói tiếp:

- Việc nhỏ, nhưng nếu không chú ý bố trí cho tốt thì rất dễ mất trật tự. Chú có biết không, ở Hương Cảng, công nhân lao động biểu tình thì chính quyền Anh chưa giải quyết, nhưng khi công nhân công ty vệ sinh đình công thì chính quyền Anh phải giải quyết ngay. Vì đã có tuần giải quyết chậm, rác rưởi bẩn thỉu ngập đường phố.

Tiếp đó, Bác dặn tôi nói với Ban tổ chức nếu trời có mưa thì kết thúc míttinh sớm hơn, tránh cho đồng bào khỏi bị ướt, nhất là đối với các cụ già và các cháu nhỏ.

Thật hạnh phúc biết bao cho nhân dân Việt Nam khi được biết vị đứng đầu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ chỉ trước khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập vài giờ vẫn chăm lo đến những cái nhỏ nhất trong đời sống.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi: khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại Quảng trường Ba Đình, khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, đến đoạn tố cáo tội ác của phátxít Nhật, cả biển người im phăng phắc. Nghĩ đồng bào nghe mình nói tiếng Nghệ An không rõ và quên cả mình là Chủ tịch nước đang trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, Bác ngừng đọc cất tiếng hỏi rất thân mật:

- Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?

Tiếng trả lời: “Có” như sấm dậy. Chưa bao giờ và chưa ở đâu, người ta lại thấy tình cảm giữa lãnh đạo cao nhất và dân chúng gần gũi và thân thương đến thế! Kết thúc cuộc míttinh, ra về nhưng mọi người vẫn như nhìn thấy ánh mắt, vẫn như nghe thấy giọng nói ấm áp và hiền hậu của Bác.

2. Chú nói đúng, nhưng chưa đủ

Nghiêm nghị nhìn chúng tôi một lượt, Bác lại hỏi:

- Hòa bình lập lại, nhiệm vụ của các chú là gì?

Đồng chí Tân, cán bộ đại đội, đáp:

Thưa Bác, bộ đội chúng cháu phải tiếp tục cùng nhân dân trừ gian, tích cực sản xuất và tích cực học tập quân sự, chính trị, văn hóa. Riêng đoàn chúng cháu có nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ tại Hà Nội ạ.

Bác gật đầu:

- Chú nói đúng, nhưng chưa đủ. Các chú còn phải cùng nhân dân đấu tranh thực hiện cải cách ruộng đất, tăng gia, chống đói, chống lụt. Phải xây dựng quân đội lớn mạnh bằng cách học tập chính trị, văn hóa, quân sự cho giỏi và sẵn sàng chiến đấu. Phải đề phòng mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ địch

Sau khi đã giải thích cặn kẽ về Hiệp định Giơnevơ, Bác lại hỏi một lần nữa:

- Các chú còn gì thắc mắc nữa không?

3. Tăng tiêu chuẩn cho chiến sĩ

Năm 1952, khi vùng tự do đã được mở rộng sau nhiều năm chiến dịch lớn, các đại đoàn chủ lực đã được thành lập. Chính sách thuế nông nghiệp được ban hành, nhân dân nhiều vùng ra sức đóng góp thuế nông nghiệp để nuôi quân.

Bác đề nghị tăng gấp đôi tiêu chuẩn cho bộ đội (lúc đó chiến sĩ được tiêu chuẩn 1 kg gạo/ngày, kể cả ăn và tiêu vặt), cán bộ thì được hơn.

Chủ trương đó được phổ biến tới Tổng cục Hậu cần và Cục Quân lương. Các đồng chí quân lương nhiều lần làm đề án trình Bác, căn cứ vào thực tế thóc có trong kho và tính toán cân đối với Bộ Tài chính, thì tăng gấp đôi cho cán bộ từ trung đội phó trở lên, còn chiến sĩ chỉ thêm hai lạng tức là mỗi ngày được tiêu chuẩn 1,2 kg  gạo.

Tôi thấy nhiều đêm Bác thao thức về vấn đề này. Có lần đến phiên tôi trực, Bác hỏi: “Sức trai như chú mỗi bữa ăn mấy bát cơm thì no?”. Lúc ấy ăn uống thức ăn chẳng có gì, chủ yếu là ăn cơm. Tôi hiểu tâm trạng Bác hỏi là có ý, nên đã thưa thực:

- Thưa Bác, như sức cháu mỗi bữa ăn 5 bát mới no.

- 5 bát cơm phải một bơ bò đầy gạo là 0,33 kg, ngày ba bữa, riêng ăn đã là 1kg rồi.

Vào một đêm tháng Chạp năm đó, trời rét như cắt thịt. Tôi thu mình trong chiếc áo dạ chiến lợi phẩm đứng dưới nhà sàn của Bác. Ánh đèn trên sàn nhà vẫn sáng. Khoảng 1 giờ sáng có tiếng lẹp xẹp trên sàn nứa, tôi đoán Bác lại suy tư điều gì, xuống hỏi tôi đây.

Đúng như dự đoán, chỉ hơn một phút sau Bác đã đứng cạnh tôi, Bác đưa cho tôi một điếu thuốc lá hút cho đỡ rét rồi hỏi:

- Chú ăn cơm chiều lúc mấy giờ?

- Thưa Bác lúc 5 giờ rưỡi ạ!

- Chú đã đói chưa?

Biết là không thể nói dối Bác được, tôi thú thật:

- Thưa Bác đói rồi ạ!

Bác vui hẳn lên như tìm ra một vật quý và nói - giọng nói đầy thương yêu.

- Đúng rồi, chú bảo vệ ở hậu phương mà lúc này đói, thì các chiến sĩ công đồn, phục kích quân địch, vào lúc này chắc sẽ đói gấp đôi. Vậy mỗi chú chỉ có 1,2 kg gạo thì đánh giặc sao nổi.

Bác lên sàn rồi quay lại rất nhanh đưa cho tôi một bắp ngô nếp luộc rất to.

- Phần của chú đây, chú ăn đi cho đỡ đói để làm nhiệm vụ.

Tôi biết không thể từ chối, nên cầm bắp ngô ăn, trong bụng vẫn băn khoăn không biết đêm nay Bác đã ăn gì chưa?

Khi nhà sàn đã tắt đèn, tôi liếc nhìn đồng hồ thì đã 2 giờ sáng. Những gì diễn ra tiếp đó thì tôi không rõ, chỉ biết rằng đầu tháng sau các chiến sĩ bảo vệ chúng tôi cũng được tăng tiêu chuẩn 2 kg gạo/ngày.

4. Người Công giáo ghi ơn Bác Hồ

Ngày 12/6/1987, tại Hội thảo khoa học “Bác Hồ với Huế - Huế với Bác Hồ” do Thành ủy Huế tổ chức nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 ngày Bác Hồ về thăm Đồng Hới - Quảng Bình, lúc đó thuộc tỉnh Bình - Trị - Thiên, linh mục Nguyễn Văn Ngọc đã kể một kỷ niệm không bao giờ quên của đồng bào Công giáo xứ Huế về đức bác ái bao la của Bác Hồ:

Năm 1949, Việt Minh bao vây kinh tế thành phố Huế. Linh mục Nguyễn Văn Ngọc, khi đó, đảm đương công việc ruộng đất của Nhà Chung tại giáo xứ Lương Văn, có trách nhiệm cung cấp lương thực để đài thọ cho 600 linh mục, chúng sinh dòng tu nam, nữ của thành phố. Trong điều kiện Huế bị bao vây, linh mục không có cách nào chở được số lúa gạo vào thành phố cho Nhà Chung ăn tiêu.

Linh mục rất lo lắng, đem chuyện này thưa lại với đồng chí Quế, lúc đó là cán bộ Việt Minh của mặt trận Thừa - Thiên - Huế, vẫn có liên lạc với giáo xứ Lương Văn. Sau một hồi suy nghĩ, đồng chí Quế khuyên linh mục Ngọc nên viết thư xin phép Bác Hồ, đồng chí sẽ cố gắng tìm cách chuyển giúp.

Không còn cách nào khác, linh mục Ngọc đánh bạo viết thư lên Cụ Chủ tịch, thực lòng cũng không dám hy vọng sẽ đến được với Bác Hồ trong hoàn cảnh chiến tranh, Người lại ở quá xa và bận rộn trăm nghìn công việc lớn lao của đất nước.

Thật bất ngờ, một tháng sau, đồng chí Quế chuyển đến cho linh mục Ngọc một cái thiếp có chữ ký và dấu của Cụ Chủ tịch. Nội dung gồm hai điểm:

1. Cho phép linh mục Nguyễn Văn Ngọc được phép chở 9000 thúng lúa lên thành phố Huế trong vòng một tháng để trợ cấp cho Nhà Chung.

2. Linh mục Ngọc được tự do đi lại trong tỉnh Thừa Thiên để coi sóc ruộng đất của Nhà Chung, tiếp tục trồng cấy, không được để ruộng đất bỏ hoang.    

Nhờ có giấy phép đặc biệt của Bác Hồ, linh mục Ngọc đã hoàn thành được nhiệm vụ, chở được lương thực lên thành phố, cứu nguy cho hơn 600 con người đang trong cảnh nguy ngập. Ai cũng mừng rỡ và hết lòng ca tụng Bác Hồ, vị Chủ tịch có lòng bác ái mênh mông của Chúa, tất cả vì lợi ích và cuộc sống của con người, không phân biệt lương hay giáo. Bác Hồ đúng là hiện thân của chính sách đại đoàn kết dân tộc, đại đoàn kết tôn giáo.

Để kỷ niệm và ghi ơn Bác Hồ, vị giám mục người Pháp địa phận Huế đã gửi tấm thiếp của Người về Pari và hiện nay tấm thiếp đó vẫn đang được trang trọng lưu trữ tại Hội Thừa Sai Pari.

5. Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế nào?

Đội thanh niên xung phong công tác trung ương đầu tiên thành lập ngày 15/7/1950 theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch. Sau khi phục vụ chiến dịch Biên giới, Đội được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường quan trọng: Cao Bằng - Bắc Kạn - Thái Nguyên.

Đội đã tổ chức thành nhiền Liên phân đội rải quân dọc tuyến đường và nhận nhiệm vụ bám trụ những nơi hiểm yếu. Liên phân đội thanh niên xung phong 321 của chúng tôi được nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù (thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn), nằm trên tuyến đường từ thị xã Bắc Kạn đi Cao Bằng. Cầu Nà Cù lúc này không những đã trở thành mục tiêu ném bom bắn phá của máy bay địch, mà còn có nguy cơ bị nước lũ cuốn trôi.

Trung tuần tháng 9/1950, chúng tôi được tin báo có đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần) sẽ đến thăm đơn vị. Đêm hôm đó, chúng tôi tổ chức lửa trại trong rừng Nà Tu để đón khách. Vừa trông thấy ánh đèn pin thấp thoáng từ ngoài cửa rừng đi vào, đoán là khách đã đến, tôi cho anh chị em vỗ tay hoan hô: “Hoan hô đồng chí Trần Đăng Ninh”. Khách vào tới nơi, định thần nhìn lại, tất cả chúng tôi đều sững sờ trước niềm vinh hạnh phúc thật bất ngờ: Bác Hồ đến thăm. Hàng ngũ của chúng tôi trở nên xáo động…, nhưng do việc giữ bí mật đã ăn sâu vào ý thức từng người nên trong hàng ngũ cũng chỉ truyền đi những tiếng reo khe khẽ: “Bác Hồ! Bác Hồ!”. Rõ ràng Bác đang ở trước mắt mà chúng tôi cứ ngỡ như một giấc chiêm bao! Bác vẫn giản dị với bộ quần áo bà ba màu nâu, chiếc khăn quàng cổ che kín cả chòm râu. Đi bên cạnh Bác là đồng chí Trần Đăng Ninh.

Bác tươi cười nhìn chúng tôi và giơ tay ra hiệu:

- Các cháu ngồi cả xuống.

Chúng tôi đều răm rắp nghe theo lời Bác, im lặng ngồi xuống.

Những câu đầu tiên Bác hỏi chúng tôi là những lời hỏi thăm ân cần về tình hình đời sống của đơn vị.

Bác hỏi:

- Các cháu ăn uống có đủ no không?

- Thưa Bác có ạ!

- Các cháu có đủ muối ăn không?

- Thưa Bác đủ ạ!

- Quần áo, chăn màn, thuốc phòng bệnh chữa bệnh có đủ không?

- Thưa Bác đủ ạ!

Qua nụ cười hiền hậu trên nét mặt của Bác, chúng tôi thấy Bác biết thừa là chúng tôi nói dối để Bác vui lòng. Bác đã được đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp báo cáo đầy đủ về chế độ cấp phát lương thực, thuốc men, quân trang cho thanh niên xung phong còn thiếu thốn. Bác lại hỏi:

- Các cháu có biết Đảng Lao động Việt Nam không?

- Thưa Bác có ạ!

- Sau đó Bác lại hỏi tiếp:

- Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Cộng sản Đông Dương khác nhau ở điểm nào?

Một số người trong chúng tôi được Bác kiểm tra trực tiếp toát mồ hôi, nên trả lời rất lúng túng.

Sau đó bằng những câu ngắn gọn, Bác đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ II vừa mới họp về việc đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam. Tiếp đó Bác nhắc nhở:

- Lần sau cái gì không biết các cháu phải nói không biết, không biết mà nói biết là giấu dốt.

Rồi Bác đột ngột hỏi tiếp:

- Đào núi có khó không?

Chúng tôi ai cũng dè dặt không dám trả lời ào ào như trước nữa. Thế là người trả lời: khó, người sợ nói khó bị cho là tư tưởng ngại khó nên trả lời không khó.

Trả lời xong mà cứ nơm nớp sợ Bác hỏi thêm. Bác chưa kết luận mà hỏi thêm chúng tôi:

- Có ai dám đào núi không?

Và chỉ định một đội viên gái ngồi ngay trước mặt Bác, đồng chí này mạnh dạn đứng lên thưa:

- Thưa Bác có ạ! Thanh niên xung phong chúng cháu ngày ngày vẫn đang đào núi để đảm bảo giao thông đấy ạ! (Hồi bấy giờ chúng tôi đào núi bằng cuốc, xẻng, không được cơ giới hoá như bây giờ). Nghe xong, Bác cười:

- Đào núi không khó là không đúng, nhưng khó mà con người vẫn dám làm và làm được. Chỉ cần cái gì?

Chúng tôi đã bình tĩnh, lấy lại được tinh thần và mạnh dạn hẳn lên, thi nhau giơ tay lên phát biểu, có người trả lời “cần quyết tâm cao” có người “cần kiên gan bền chí”, “cần vượt khó vượt khổ”, có người “cần xung phong dũng cảm”, toàn là những khẩu hiệu hành động của thanh niên xung phong chúng tôi hồi đó.

Bác động viên chúng tôi:

- Các cháu trả lời đều đúng cả: Tóm lại việc gì khó mấy cũng làm được, chỉ cần quyết chí. Tục ngữ ta có câu: “Có công mài sắt, có ngày lên kim”. Để ghi nhớ buổi nói chuyện của Bác cháu ta hôm nay, Bác tặng các cháu mấy câu thơ:

                                            Không có việc gì khó

                                            Chỉ sợ lòng không bền

                                            Đào núi và lấp biển

                                           Quyết chí ắt làm lên.

Đọc xong mỗi câu thơ, Bác lại bảo chúng tôi đồng thanh nhắc lại. Cuối cùng Bác chỉ định nhắc lại cả bài thơ cho tất cả đơn vị nghe. Thật may mắn, tôi đã nhắc trôi chảy không sai chữ nào.

Giữa rừng đêm khuya, dưới ánh lửa bập bùng, Bác cùng chúng tôi hoà nhịp theo bài ca “Nhạc tuổi xanh”. Chúng tôi hát hào hứng, say mê. Đến khi bài hát được hát lại lần thứ hai, nhìn lại thì không thấy Bác đâu nữa! Bác xuất hiện và ra đi như một ông tiên trong chuyện cổ tích huyền thoại. Đám thanh niên chúng tôi ngẩn ngơ nuối tiếc hồi lâu.

Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế đó. Rất mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng sâu sắc. Bài thơ là nguồn cổ vũ, động viên lớp lớp thanh niên xung phong  chúng tôi lao vào cuộc kháng chiến và kiến quốc. Sau này mỗi khi gặp khó khăn, hình ảnh của Bác Hồ và bốn câu thơ của Bác lại được tái hiện trong lòng chúng tôi, tiếp cho chúng tôi thêm sức mạnh để vượt qua.

6. Đảng viên là những ai

Sau khi nhân dân ta giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, nước cộng hòa non trẻ Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn. Thời gian từ năm 1945 đến năm 1946 được các nhà nghiên cứu khoa học coi như “ngàn cân treo sợi tóc”. Sợi tóc thường chắc là đứt ngay, nhưng “sợi tóc” Việt Nam vẫn có thể chịu đựng được trọng lượng ấy và thắng cả trọng lượng ấy gồm cả Ấn, Anh, Pháp, Tàu Tưởng.

Mấy chục vạn quân Tưởng kéo vào Việt Nam đã cướp của, giết người, yêu sách vàng, bạc, gạo, tiền, gái điếm. Chúng đã được lệnh “ cầm Hồ, diệt cộng” (Bắc Cụ Hồ, diệt Cộng sản). Chúng dung túng cho bọn Việt quốc (Việt Nam quốc dân Đảng) của Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, bọn Việt Cách (Việt Nam cách mạng đồng minh) của bè lũ Nguyễn Hải Thần gây rối loạn, mưu đảo chính… Bọn chúng rêu rao Việt Nam là Cộng sản. Cụ Hồ là Cộng sản, Chính phủ Việt Nam là Cộng sản…

Ngày 11 tháng 11 năm 1945, Bác Hồ và thường vụ Trung ương tuyên bố tự giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Thế là chúng hết đi một “mục tiêu” Đảng tự giải tán nhưng đảng viên còn. Đảng viên không bao giờ mất đi danh hiệu ấy, ngoại trừ tự mình đánh rơi. Và một “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác” ra đời…

Được tin Đảng tự giải tán, một cán bộ cao cấp chạy đến chất vấn Bác:

- Tại sao Bác lại giải tán Đảng chúng tôi?

Bác ngừng tay viết, đứng lên giơ hai nắm tay trước đồng chí cán bộ:

- Đây là Đảng, đây là Tổ quốc. Chú muốn bên nào? Chú có thấy đồng bào lập bàn thờ Tổ quốc, có cờ đỏ sao vàng và có 4 chữ. Chữ gì? “Tổ quốc trên hết!”

Không đợi cán bộ trả lời, Bác ngồi xuống tiếp tục làm việc.

Đồng chí cán bộ chắp tay:

- Cháu hiểu, cháu xin lỗi Bác!

Ngày 21 tháng 1 năm 1946, trên báo Cứu quốc có đăng “Trả lời các nhà báo nước ngoài” ký tên Hồ Chí Minh, không ghi chức vụ Chủ tịch nước.

Sau khi tuyên bố rằng “tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý”, “phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác”, “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Bác còn viết thêm một đoạn nữa.

Đoạn cuối này như sau:

“Trong một nước dân chủ thì mọi người đều có tự do tin tưởng, tự do tổ chức”. (Điều đó theo ý Bác có thể là ai cũng có quyền theo hoặc không theo, không tin tưởng tôn giáo này chủ nghĩa nọ, ai cũng được quyền tổ chức ra một hội.. nào đó, ví dụ dân ta có quyền thành lập Đảng Cộng sản… “Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ngoài mọi đảng phái. (Câu này Bác nhấn mạnh in nghiêng trong văn bản). “Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam” . (Có thể hiểu là “đảng” hay “mặt trận” của cả dân tộc Việt Nam, một tổ chức của toàn thể dân tộc?).

Có Đảng phải có mục tiêu, có đảng viên. “Đảng dân tộc Việt Nam” mà Bác nêu ở trên “sẽ chỉ có một mục đích là làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập, đảng viên của Đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ngoài Đảng”.

Về mặt đối ngoại: sau khi Đảng Cộng sản Đông Đương tự giải tán – chắc chắn bấy giờ Đảng ta cũng chưa có nhiều đảng viên – mà nay Cụ Hồ lại dự định thành lập một đảng của “tất cả quốc dân Việt Nam” thì chắc sẽ còn mạnh hơn, đông hơn trước. Nhưng “bàn tay có ngón ngắn, ngón dài”, quốc dân Việt Nam cũng có người tốt, người chưa tốt. Do đó những người “phản quốc”, “tham ô” sẽ đứng ra ngoài đảng này – tức là đảng của quốc dân Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, họ không xứng đáng, không được đứng trong hàng ngũ của Đảng dân tộc Việt Nam, của Tổ quốc Việt Nam…

Trong nội bộ Đảng ta, bài nói của Bác còn là một lời dạy “đại đoàn kết, về đại hòa hợp”. Bác đã báo trước cho chúng ta rằng không thể coi nhẹ những kẻ tham ô, tuy rằng “kẻ” ấy “đứng” sau kẻ phản quốc.

Xin nhắc lại: đây là lời dạy của Bác từ tháng 1 năm 1946.

7. Bác Hồ là thế đấy

Thời chống Mỹ. Một buổi trưa, Hồ Chủ tịch đang chuẩn bị nằm nghỉ thì cần vụ vào báo cáo Bác là có khách. Khách là một cụ già ở Hưng Yên. Cùng đi với cụ có một vị lãnh đạo tỉnh. Trên xe còn có một thùng cá khá nặng.

- Thưa Bác, cháu xin thay mặt bà con ở địa phương lên thăm sức khỏe Bác và có ít cá mới đánh đem lên biếu Bác. Cá loại này là cá tiến nổi tiếng ở đầm Dạ Trạch đấy ạ!

- Thưa cụ, cụ ngang tuổi tôi, xin cụ đừng xưng hô như thế!

- Vâng, nếu cụ cho phép…

- Ao nhà ta có rộng không mà cụ thả được nhiều cá vậy?

- Dạ thưa cụ, đây là cá của hợp tác xã.

- Cá của hợp tác xã là tài sản chung của bà con, phải để bà con dùng chứ!

- Thưa cụ, nhờ có ông lãnh đạo tỉnh giao cho nên lần đầu tiên tôi mới được gặp Cụ Chủ tịnh nước, thật may mắn cho tôi quá. Còn cá, đã trót mang lên đây rồi, xin Cụ vui lòng nhận cho, chúng tôi khỏi phải đem về.

Hồ Chủ tịch cho mời ông cán bộ phụ trách nhà bếp lên gặp Người.

Loại cá này ở chợ Bắc Qua bán bao nhiêu một cân?

Thưa Bác, một cân giá…

- Vậy chú cân lên xem tất cả là bao nhiêu cân, coi như nhập vào nhà bếp của cơ quan. Và chú tính xem bao nhiêu tiền để gửi cụ cầm về.

Quay sang vị khách quý Hưng Yên, Hồ Chủ tịch ân cần nói:

- Tôi xin đa tạ tấm lòng của cụ và bà con xã nhà đối với tôi. Quà cụ và bà con cho, tôi nhận rồi, còn đây là số tiền tôi gửi cụ đem về nộp vào quỹ hợp tác xã.

Trích theo “Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

Biết cách và có quyết tâm

Sau Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc miền Nam lần thứ nhất, A vai cùng Tạ Thị Kiều, Huỳnh Văn Đảnh, Trần Dưỡng, Lê Chí Nguyện được Bộ chỉ huy quân sự Miền cho ra thăm miền Bắc. Trong chuyến đi này các anh, chị được vinh dự gặp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch.

Thấy Bác, các anh, chị chạy ùa đến vây quanh Người. Chị Kiều ôm Bác đi một bên còn bên kia là A Vai. Bác không nói gì nhưng cả hai đều khóc. Bác vẫn đi từng bước khoan thai và nhẹ nhàng, Bác bảo:

- Các cháu ra thăm Bác sao lại khóc? Phải vui lên chứ! Nào, các cháu cười lên cho Bác vui!

Cả đoàn cùng cười nhưng đúng là cười ra nước mắt.

Vừa đi Bác vừa hỏi anh em về chuyện đi đường, về tình hình mọi mặt của đồng bào nơi các anh, chị chiến đấu. Ai nấy đều hết sức ngạc nhiên khi thấy Bác biết rất nhiều chuyện trong này, ngay cả những chuyện cụ thể trong vùng chúng tôi sống mà chúng tôi cũng không biết… Đến giữa vườn cây Phủ Chủ tịch, Bác đưa tay làm hiệu cho anh em trong đoàn ngồi xuống.

Nhìn sang phía chị Kiều, Bác hỏi về đội quân tóc dài ở vùng Bến Tre. Đoạn quay sang A Vai hỏi:

- Cháu A Vai là người dân tộc, tình hình nhân dân trong vùng cháu sống ra sao? Có gì khó khăn lắm không?

A Vai đứng dậy thưa với Bác:

- Bà con dân tộc Vân Kiều, Tà Ôi, Cà Tu và dân tộc Pa Cô của cháu trước đây sống trong thời Pháp thuộc và bọn Mỹ - ngụy đều nghẹt thở, có mắt như mù, không ai biết chữ. Chúng nó còn tìm mọi cách phá khối đoàn kết giữa các dân tộc. Từ ngày cách mạng về, các dân tộc có đoàn kết giúp nhau học tập, sản xuất, chiến đấu!

Bác dịu dàng bảo:

- Thế là tốt. Riêng lần này ra Bắc cháu phải cố học. Bác nghe cháu nói chưa thạo tiếng Kinh. Cháu nói Bác nghe được chứ mọi người chưa hiểu hết đâu. Chữ “cho” cháu nói ra chữ “chó” ai hiểu được.

Tất cả mọi người cùng cười.

Chiều hôm ấy, A Vai cùng các bạn được ăn cơm với Bác. Trước khi ăn, Bác giới thiệu từng món ăn, rồi Bác bảo:

- Các cô, các chú phải ăn thứ tự. Ăn hết món này đến món khác. Không nên ăn lung tung, bỏ thừa thức ăn lãng phí.

Sau đó Bác kể cho cả đoàn nghe về cuộc đời hoạt động của Bác, từ lúc ở Sài Gòn ra đi, Bác thấy nhân dân ta khổ cực thế nào? Khi về nước phong trào khó khăn ra sao? Chuyện thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, v.v… Bác chỉ tay về phía Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói:

- Đó, ông chỉ huy Giải phóng quân đầu tiên đó.

Đại tướng và mọi người đều cười vui vẻ.

Năm 1966, A Vai lại được gặp Bác, Bác căn dặn: Cháu học một thời gian rồi mà vẫn chưa thạo tiếng phổ thông. Đừng ham học nhiều. Một ngày học 5 chữ thôi, nhưng phải nhớ thật chắc. Hai ngày cộng lại được 10 chữ. Học tràn lan thì không nhớ gì hết. Có công mài sắt có ngày nên kim, việc học tập cũng thế. Biết cách học, có quyết tâm thì nhất định học được.

Trở lại miền tây Thừa – Thiên trong những ngày nóng bỏng của Tết Mậu Thân, A Vai đã vận dụng những điều Bác dạy trong thực tiễn chiến đấu của mình. Anh rút ra kết luận: “ Nếu có quyết tâm và biết cách đánh, vẫn có thể đánh Mỹ được và nhất định sẽ đánh thắng Mỹ”.

8. Biết cách và có quyết tâm

Sau Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc miền Nam lần thứ nhất, A vai cùng Tạ Thị Kiều, Huỳnh Văn Đảnh, Trần Dưỡng, Lê Chí Nguyện được Bộ chỉ huy quân sự Miền cho ra thăm miền Bắc. Trong chuyến đi này các anh, chị được vinh dự gặp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. 

Thấy Bác, các anh, chị chạy ùa đến vây quanh Người. Chị Kiều ôm Bác đi một bên còn bên kia là A Vai. Bác không nói gì nhưng cả hai đều khóc. Bác vẫn đi từng bước khoan thai và nhẹ nhàng, Bác bảo:

- Các cháu ra thăm Bác sao lại khóc? Phải vui lên chứ! Nào, các cháu cười lên cho Bác vui!

Cả đoàn cùng cười nhưng đúng là cười ra nước mắt.

Vừa đi Bác vừa hỏi anh em về chuyện đi đường, về tình hình mọi mặt của đồng bào nơi các anh, chị chiến đấu. Ai nấy đều hết sức ngạc nhiên khi thấy Bác biết rất nhiều chuyện trong này, ngay cả những chuyện cụ thể trong vùng chúng tôi sống mà chúng tôi cũng không biết… Đến giữa vườn cây Phủ Chủ tịch, Bác đưa tay làm hiệu cho anh em trong đoàn ngồi xuống.

Nhìn sang phía chị Kiều, Bác hỏi về đội quân tóc dài ở vùng Bến Tre. Đoạn quay sang A Vai hỏi:

- Cháu A Vai là người dân tộc, tình hình nhân dân trong vùng cháu sống ra sao? Có gì khó khăn lắm không?

A Vai đứng dậy thưa với Bác:

- Bà con dân tộc Vân Kiều, Tà Ôi, Cà Tu và dân tộc Pa Cô của cháu trước đây sống trong thời Pháp thuộc và bọn Mỹ - ngụy đều nghẹt thở, có mắt như mù, không ai biết chữ. Chúng nó còn tìm mọi cách phá khối đoàn kết giữa các dân tộc. Từ ngày cách mạng về, các dân tộc có đoàn kết giúp nhau học tập, sản xuất, chiến đấu!

Bác dịu dàng bảo:

- Thế là tốt. Riêng lần này ra Bắc cháu phải cố học. Bác nghe cháu nói chưa thạo tiếng Kinh. Cháu nói Bác nghe được chứ mọi người chưa hiểu hết đâu. Chữ “cho” cháu nói ra chữ “chó” ai hiểu được.

Tất cả mọi người cùng cười.

Chiều hôm ấy, A Vai cùng các bạn được ăn cơm với Bác. Trước khi ăn, Bác giới thiệu từng món ăn, rồi Bác bảo:

- Các cô, các chú phải ăn thứ tự. Ăn hết món này đến món khác. Không nên ăn lung tung, bỏ thừa thức ăn lãng phí.

Sau đó Bác kể cho cả đoàn nghe về cuộc đời hoạt động của Bác, từ lúc ở Sài Gòn ra đi, Bác thấy nhân dân ta khổ cực thế nào? Khi về nước phong trào khó khăn ra sao? Chuyện thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, v.v… Bác chỉ tay về phía Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói:

- Đó, ông chỉ huy Giải phóng quân đầu tiên đó.

Đại tướng và mọi người đều cười vui vẻ.

Năm 1966, A Vai lại được gặp Bác, Bác căn dặn: Cháu học một thời gian rồi mà vẫn chưa thạo tiếng phổ thông. Đừng ham học nhiều. Một ngày học 5 chữ thôi, nhưng phải nhớ thật chắc. Hai ngày cộng lại được 10 chữ. Học tràn lan thì không nhớ gì hết. Có công mài sắt có ngày nên kim, việc học tập cũng thế. Biết cách học, có quyết tâm thì nhất định học được.

Trở lại miền tây Thừa – Thiên trong những ngày nóng bỏng của Tết Mậu Thân, A Vai đã vận dụng những điều Bác dạy trong thực tiễn chiến đấu của mình. Anh rút ra kết luận: “ Nếu có quyết tâm và biết cách đánh, vẫn có thể đánh Mỹ được và nhất định sẽ đánh thắng Mỹ”.

9. Trung với Nước, Hiếu với Dân

Ngày 26 tháng 6 năm 1946, Trường võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 1 tiến hành khai giảng trọng thể theo đúng nghi thức quân sự chính quy. Đoàn quân nhạc lễ phục mới tinh. Cán bộ, học viên quân phục chỉnh tề, Bác đến hiệu bộ từ rất sớm, cùng các đồng chí Hoàng Đạo Thúy – Hiệu trưởng và Trần Tử Bình – Chính trị viên, đi thăm nhà bếp, nhà ăn, phòng học, phòng ngủ của học viên trước khi ra dự lễ.

Lá cờ đỏ sao vàng mới tinh được kéo lên trong tiếng nhạc Quốc ca. Bác từ lễ đài bước xuống, trao lá cờ mang 6 chữ vàng “Trung với Nước, Hiếu với Dân” cho đồng chí học viên vừa được chiến trường Nam Bộ cử ra học. Hơn 300 học viên bồng súng chào theo khẩu lệnh của Tổng trực ban Vương Thừa Vũ. Bác đứng nghiêm trước lá cờ, rồi trở về lễ đài đến trước micrô huấn thị cho cán bộ, học viên. Người nói: “Trung với Nước, Hiếu với Dân” là bổn phận Thiêng Liêng, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là một vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia của nước ta. “Trung với Nước, Hiếu với Dân” là đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. Lợi ích cơ bản và cấp thiết của nhân dân ta lúc này là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Phải hết lòng, hết sức đấu tranh để thật sự đạt được lợi ích đó…”

Sau khi dặn dò về trách nhiệm của người cán bộ cách mạng. Người nói tiếp: “Làm cán bộ phải siêng năng. Trời sinh ra con người, ai cũng có ngũ quan. Nhưng người cán bộ có chỗ khác là biết tận dụng ngũ quan để làm việc cho cách mạng, cho nước, cho dân. Mắt phải siêng nhìn sát thực tế, quan sát kỹ lưỡng tình hình. Mũi phải siêng ngửi thấy những vấn đề mới mẻ. Tai phải siêng nghe ý kiến của anh em, bạn bè, đồng chí, cấp trên, còn phải nghe cả địch nữa để dễ bề đối phó. Tay phải siêng lao động. Chân phải đi sát bộ đội, đi sát quần chúng. Người ta có hai mắt, hai tai, hai chân nhưng chỉ có một mồm nên cần ít nói, nói những điều cần thiết, mà đã cần thiết thì nói đi nói lại trăm nghìn lần cũng vẫn phải siêng, càng có lợi cho cách mạng”.

Những lời huấn thị và 6 chữ vàng “Trung với Nước, Hiếu với Dân” của Bác đối với lớp học viên khóa I năm ấy, không chỉ thấm sâu trong suốt cuộc đời của mỗi người mà nó trở thành bản chất tốt đẹp và truyền thống chiến đấu vẻ vang của cả Quân đội nhân dân Việt Nam.

10. Đảng lo việc cho cả nước

Ngày 9 tháng 12 năm 1961, Bác Hồ có cuộc gặp với cán bộ, đảng viên lão thành cách mạng hai tỉnh “đỏ”: Nghệ An và Hà Tĩnh. Đây là những đảng viên lâu năm, hoạt động cách mạng từ những năm 1929 – 1930, khi Đảng còn trong “bóng tối”. Cách mạng thành công, do nhiều lý do, một số trong các bậc lão thành không có điều kiện nhận “chức này, quan nọ không được “ưu tiên”, con cháu ít được ưu đãi…

Bác nhẹ nhàng hỏi chuyện:

- Các đồng chí nói: Có những thành phần không tốt, khi trước nó phản Cộng sản, nay nó được đề bạt; mình trung thành với cách mạng thì không được chú ý. Không đúng! Cố nhiên, một đôi lúc các ban tổ chức địa phương hay Trung ương không cẩn thận… đó là nhầm. Nhưng bất kỳ ai có khả năng, đủ tiêu chuẩn, cách mạng có nhu cầu là phải dùng. Ví dụ: giữa hai đứa con của người trong Đảng và người ngoài Đảng. Con của đồng chí mình thì kém, dốt. Con của người ngoài Đảng thì thông minh, ngoan ngoãn hơn. Vậy thì ta nên đưa ai đi? Con của người ngoài Đảng hay trong Đảng?...

Bác dừng lại nhìn cả hội trường, hỏi mà Bác không vui, dù chắc đã biết câu trả lời mà Bác vẫn hỏi. Các “lão thành đồng chí” nhìn lên Bác, trả lời:

- Dạ, con của người ngoài Đảng ạ.

Bác gật đầu nói:

- Đúng, vì Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Đảng lo việc cho cả nước, không lo riêng cho một đồng chí nào…

 

 

Trích 120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh


Số lượt người xem: 5043 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày