SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
3
1
7
8
2
3
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Thứ Năm, 25/10/2012, 10:15

Những câu chuyện kể về Bác - Kỳ 12

 

Bác Hồ thăm xưởng cơ khí Nhà máy ô tô 1-5, tháng 12-1963

1. Hò hét mà không làm

Cuối năm 1952, đoàn cán bộ, chiến sĩ miền Nam ra Việt Bắc, được gặp Bác Hồ.

Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe từng đồng chí, đi đường có ai ốm đau gì không, đã có đủ áo ấm chưa, đã được cấp phát những gì…

Thay mặt cho hơn 50 anh em, một đồng chí báo cáo:

- Thưa Bác, từ khi đến đất Khu Bốn rồi lên Việt Bắc đến nay, chưa được cấp phát gì cả ạ.

Bác quay sang đồng chí Võ Nguyên Giáp nói:

-  Chú Văn phải lo việc này cho các chú ấy. Chú Văn phải chiêu đãi các chú ấy nhân dịp ta vừa chiến thắng Nghĩa Lộ…

Sau đó, Bác mời cả đoàn đi ăn cơm. Bác nhìn hết đồng chí này đến đồng chí kia, gắp thức ăn cho từng người, quên cả ăn.

Tan tiệc, Bác tặng mỗi đại biểu một cái kẹo, một điếu thuốc lá “Đại Tiền Môn” của Trung Quốc – quà của cố vấn nước bạn tặng Bác, Bác nói:

- Kẹo và thuốc lá của các cố vấn Trung Quốc biếu Bác. Bác biếu lại các chú.

Đếm người, thấy thiếu một đồng chí, Bác hỏi:

- Ai không có mặt?

Anh em thưa:

- Thưa Bác, có đồng chí Hoàng mệt, không đến được ạ.

Bác bèn chia phần kẹo, thuốc lá cho đồng chí Hoàng và nói:

- Bác gửi quà cho chú Hoàng.

Bác còn dặn thêm phải giữ ấm ngực, năng tập thể dục, ngủ trưa…

Mỗi buổi sáng, như thường lệ, Bác vẫn dậy sớm, tập thể dục…

Bác đến từng lán của các đại biểu chính trị, quân sự, miền Trung, miền Nam giục xuống sân. Đến một lán khuất, Bác nghe hô “một hai, một hai…” nhưng không nghe tiếng chân giậm. Đến nơi, thì chẳng thấy một ai cả.

Bác trèo lên sàn, lật chăn, kéo chăn “chư vị đại biểu” trách nhẹ.

Này, các chú nằm trên giường tập thể dục bằng mồm à…

2. Bác không hỏi chú, Bác hỏi nhân dân

Lần Bác về thăm xã Vĩnh Thành (Nghệ Tĩnh), Bác có nói chuyện với đồng bào, xã viên hợp tác xã và cán bộ trong xã. Bác khen hợp tác xã về mọi mặt đều có tiến bộ, Bác nhắc nhở bà con chú ý đẩy mạnh thủy lợi, làm nhiều phân, làm cho kịp thời vụ, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ trong nhà ngoài ngõ, phải cải tiến nông cụ, chọn cây trồng cho lợi ích nhiều, tổ chức lao động cho hợp lý…

Bác khen các cô Nguyễn Thị Túy, Nguyễn Thị Nhụy, Nguyễn Thị Đường và các anh Phan Trọng Kinh, Nguyễn Tá, đã làm được nhiều công, nhiều phân, nhiều đất thủy lợi. Bác nói:

- Tuy có con dại mà cô Đường vẫn phấn đấu trở thành lao động tiên tiến. Vậy thì chớ có thấy cái gì cũng đổ tội cho các cháu bé… Dễ đổ lắm. Vì chúng không cãi.

Rồi Bác hỏi: “Thành tích của các cô, các chú trên có đúng sự thật không?”

Đồng chí Bí thư đứng cạnh Bác, nhanh miệng thưa:

- Dạ, đúng ạ.

Bác quay lại, giơ ngón tay:

- Bác không hỏi chú, Bác hỏi nhân dân kia.

Đồng bào đồng thanh trả lời để “cứu” Bí thư:

- Thưa Bác, đúng đấy ạ!

Câu chuyện nhỏ từ một ngày đầu tháng 12 năm 1961, mà đến nay số đông cán bộ vùng Nghệ Tĩnh vẫn truyền lại cho nhau. Họ nói: “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ. Đúng, sai – như Bác dạy, cứ là hỏi nhân dân”.

3. Bác dạy một người làm tướng

Bộ đội khu 3 trong kháng chiến chống pháp thường kể chuyện, phàn nàn nhưng vẫn thích thú về một Trung đoàn trưởng hay quát mắng, có khi “ục”cả lính. Tuy vậy, anh em vẫn quý mếm cán bộ này vì lòng dũng cảm, ngay thẳng, “xong việc là thôi” chẳng để bụng lâu.

Đó là “chú Nghĩa, đảng viên, mọi điều tôi đã dặn kỹ, xin tiên sinh an tâm”. Đây là lời đồng chí Vũ Anh giới thiệu người giao thông kiêm bảo vệ đồng chí Vương, tức Bác Hồ - tại Côn Minh năm 1940.

Chú Nghĩa đã được đi theo Bác trong nhiều lần công tác, nhất là đã hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Bác từ Côn Minh về nước an toàn cuối năm 1940.

Chú Nghĩa tâm sự với đồng chí Vũ Anh:

“Em biết được phục vụ Bác là một vinh dự lớn. Nhưng anh biết em rồi, em chỉ thích trực diện đánh nhau với địch, còn bảo vệ Bác, anh giao cho người khác…”

 

Đồng chí Vũ Anh thưa lại với Bác. Ban đầu Bác chưa đồng ý. Sau, nhờ có đồng chí Hoàng Hữu Nam nói thêm vào, Bác mới cho gọi chú Nghĩa:

- Chú đòi được ra chiến đấu, Bác cũng không ngăn. Nhưng Bác chỉ phân vân hai điều: một là, tính chú nóng quá. Bây giờ chú là lính. Cách mạng phát triển, quân đội phát triển mai sau chú cố gắng, sẽ là “quan”, là “tướng”. Tướng mà tính nóng là hỏng việc; hai là, tính chú liều quá. Có Bác bên cạnh mà chú còn dám bắt gà, bắt ngựa của dân sau này ra “hùng cứ một phương chú sẽ còn làm nhiều điều sai trái, ai ngăn được chú? Hoặc như việc chú tự ý tiêm ký ninh vào “ven” cho Bác cũng là việc liều. Bác chưa thấy ai tiêm ký ninh vào “ven” như chú cả.

Nhưng thôi, Bác còn sống là may rồi. Lần này ra chiến đấu chú nhớ phải phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm.

Chừng như chưa chắc chắn, trước khi để chú Nghĩa ra về, Bác hỏi gặng:

- Chú có hứa với Bác là sẽ khắc phục khuyết điểm để mau chóng tiến bộ không?

- Thưa Bác, cháu xin hứa.

Bác bắt tay chú Nghĩa.

Ít lâu sau, Pháp bị Nhật đảo chính. Có hai vợ chồng chánh mật thám Bắc Cạn và năm tên Pháp chạy sang Trung Quốc. Không may gặp đơn vị của chú Nghĩa, chú Nghĩa giải quyết xong bọn mật thám, cho phép anh em lính khố đỏ ai muốn về, được về. Chú Nghĩa thu được 6 súng ngắn, 6 đồng hồ, mấy vạn đồng Đông Dương.

Chú Nghĩa kéo quân về báo cáo với đồng chí Vũ Anh, ngỡ mình sẽ được khen, nhưng nghe xong, mặt đồng chí Vũ Anh tái mét đi.

- Lẽ nào, chú không biết một tí gì về chính sách đoàn kết của Mặt trận Việt Minh trong giai đoạn hiện nay ra sao? Việc này tôi báo cáo với Bác ra sao?

Vô cùng ân hận, lại nhớ đến lời Bác dặn, lời hứa của mình, chú Nghĩa bàn cách với đồng chí Vũ Anh, lấy cớ phong trào đang phát triển nên đã cử chú Nghĩa lên đường ngay, tránh một cuộc “gặp mặt” chắc chắn chẳng nhẹ nhàng gì với Bác, điều mà Bác đã lường trước, điều mà chú Nghĩa vừa mới hứa xong!

Việc “tày đình” như vậy làm sao giấu được Bác. Nhưng rồi Bác cũng thông cảm cho “chú Nghĩa” đã biết ân hận, đã thấy được khuyết điểm của mình.

Như đã nói ở trên trong kháng chiến chống Pháp, “chú Nghĩa” đã là Trung đoàn trưởng mà vẫn còn đôi chút nóng tính, quát mắng chiến sĩ.

Hơn 20 năm sau, khi giao chức vụ Tư lệnh Phòng không cho “chú Nghĩa”, Bác dạy:

- Chức chú càng cao thì chú càng phải thương yêu chiến sĩ nhiều hơn.

“Chú Nghĩa” của chúng ta chính là Thượng tướng Phùng Thế Tài hôm nay.

4. Lộc bất tận hưởng

Đó là câu tục ngữ, câu răn dạy, khuyên bảo con người, có nghĩa là “có lộc không nên hưởng hết một mình” mà nên chia sẻ cho người khác.

Tháng 8 năm 1945, trên đường từ chiến khu về Hà Nội, dừng chân ở một căn nhà làng Gạ, ngoại thành Hà Nội. khi gia đình dọn cơm, Bác đã sẻ phần thịt gà ngon, mềm vào bát cụ chủ nhà.

Trong những tháng năm kháng chiến chống Pháp, trên Việt Bắc, ăn cơm cùng với các chiến sĩ bảo vệ, anh nuôi, bao giờ Bác cũng chia đều thức ăn cho cả mâm. Chị Minh Phương giúp việc chăm sóc sức khỏe Bác bày ra cái mẹo ninh gà nhừ, ít nước đặc để riêng cho Bác. Bác biết ý, nói vui: “thề là khôn ăn cái, dại ăn nước”. Rồi Bác cũng lấy thìa san cho đủ người trong bữa ăn.

Một lần, Văn phòng Chủ tịch nước nhận được một miếng cao đặc mật ong của các vị lãnh đạo Đảng Trung Quốc tặng. Anh em đưa lên Bác để “Bác dùng cho khỏe”.

Bác cho gọi đồng chí cấp dưỡng lên, nói:

- Chú đem miếng cao này xuống bếp, bỏ vào nồi, đong đủ 24 bát nước, có ít gạo tẻ, gạo nếp càng tốt, đun lên, chia đều cho 24 người của Văn phòng.

Bác cũng chỉ là một trong 24 suất ấy. Đồng chí cấp dưỡng tần ngần chưa chịu đi. Bác cười nói:

- Làm đi chứ. “Lộc bất tận hưởng” mà chú!

5. Chú làm chủ tịch, để Bác làm thứ trưởng

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công ở Hà Nội, rồi Huế, Sài Gòn. Nhiều cán bộ từ vùng rừng núi “hạ sơn” vào thành phố, nhận nhà cửa được phân, được giao nhiệm vụ này nọ. Tư tưởng hưởng lạc cầu an ở một số đảng viên đã xuất hiện. Có người “bạo phổi” đến thưa với Hồ Chủ tịch là “bao năm bóng tối, gian khổ, nay cách mạng thành công nên cho cán bộ “thở” một chút. Với thái độ thông cảm, bao dung Bác nhẹ nhàng giải thích, đại ý:

- Cách mạng chưa thành công hoàn toàn chú ạ. Mới chỉ là thắng lợi một bước quan trọng thôi, để chuyển sang giai đoạn mới cao hơn, phức tạp hơn. Giành được chính quyền đã quan trọng, nhưng bảo vệ được chính quyền còn khó khăn hơn, xây dựng đất nước phồn vinh còn quan trọng, khó khăn gấp bội. Ta cần cố gắng hy sinh nhiều hơn.

Khi thành lập Chính phủ, với mục đích “tập hợp nhân tài”, “đại đoàn kết”, “Tổ quốc trên hết” Đảng và Bác Hồ đã chủ trương mời một số nhân sĩ, trí thức tham gia công việc nước. Đồng chí Vũ trước đây đã công tác lâu năm với Bác Hồ, ở bên cạnh Bác, được phân công giữ nhiệm vụ Thứ trưởng một Bộ.

Thấy mình là dân “cách mạng gốc”, bao năm hoạt động, so với mấy anh “tạch tạch xè” (câu nói chỉ tiểu tư sản), trí thức, quan lại cũ thì hẳn là ở trên rồi. Sao lại đi làm phó!

Được cái tốt là thẳng thắn, đồng chí Vũ đến ngay Bác “thuyết phục”, “trình bày” một hồi lâu với Chủ tịch nước. Chủ tịch nước ngồi yên lặng, tôn trọng ý kiến người đối thoại, trầm ngâm. Tưởng “bở” đồng chí Vũ lại quá đà nói dài thêm nên có chỗ sơ hở. Biết ý, đồng chí Vũ dừng lời. Bác lại hỏi:

- Chú còn gì nữa không?

- Thưa còn, nay chỉ xin nói thế thôi ạ.

Chủ tịch nước thong thả trả lời:

- “Thế thôi” mà đã quá dài. Bác chỉ nói ngắn: Chú giỏi lắm, công trạng nhiều quá mà chỉ làm Thứ trưởng. Vậy Bác đổi chỗ cho chú. Chú lên làm Chủ tịch để Bác làm Thứ trưởng cho…

Anh cán bộ họ Vũ vừa mới hăng hái bỗng lặng im. Lát sau đứng dậy anh nói:

- Thưa Bác cháu về.

Bác nói với theo:

- Chú về…

6. Bác dạy trẻ

Anh Việt Phương có kể một câu chuyện về một cháu, con một đồng chí Trung ương. Đồng chí ấy đưa con vào cơ quan, rồi vì công tác, buổi trưa chưa về kịp. Bác “mời” cháu đi ăn cơm với Bác (xin nhớ trong ngôn ngữ của Bác, không có chữ “cho”, mà chỉ có “tặng”, “biếu”, “mời”, “chia”…). Hôm ấy có cả bác Tô (Phạm Văn Đồng) cùng dùng bữa với hai bác cháu.

Ngồi vào mâm cơm “công tử” sợ lắm, không biết “mở đầu” trận “chiến đấu” từ đâu đây? Có một bát canh thì chưa dám lấy. Còn đĩa thịt gà lại để gần phía Bác Tô. Bác Hồ biết ý, gắp bỏ vào bát của cháu miếng thịt gà, suất của Bác. Sau đó, Bác Hồ gắp thêm thức ăn, chan canh… “tiêu diệt” được 2 bát, chú bé đặt bát nói “cháu ăn xong rồi ạ”. Và ù té chạy. Bác mời cháu quay lại:

- Này cháu, chưa xong đâu. Cháu vào đây. Thế này nhé. Hôm nay Bác Tô và Bác Hồ (xin chú ý: Bác Tô trước) mời cháu ăn cơm. Cháu ăn xong, cháu phải cảm ơn rồi mới đi chứ. Không cảm ơn đã đi là không được đâu.

Cháu bé vòng tay, cúi đầu:

- Cháu cảm ơn Bác Hồ, cháu cảm ơn Bác Tô ạ… ạ…

Xong lại co cẳng chạy. Ra đến cửa. Bác Hồ lại gọi:

- Chưa, chưa xong đâu, cháu lại đây. Cháu còn nhỏ, bây giờ về nhà cũng chơi thôi. Cháu ăn xong, cháu phải đi rửa bát của cháu cho sạch, đặt lên bàn. Chứ không được để cô cháu hầu cháu đâu.

Cháu nhỏ mang bát đi rửa, rửa đi rửa lại, sạch sẽ rồi mang vào trả.

- Mời cháu ngồi xuống ăn “tráng miệng” với Bác, Bác Tô có việc về rồi.

Bác Hồ cắt quả táo làm hai phần. Phần trên nhỏ, phần dưới to. Như một cái nồi đồng có cái vung.

- Bây giờ hai Bác cháu mình chia nhau. Mời cháu cái “vung” nhỏ. Bác ăn cái “nồi” to. Cháu có biết tại sao không? Bác thì lao động, buổi sáng làm việc, buổi chiều làm việc. Lao động như vậy là Bác phải ăn nhiều, nên ăn cái “nồi to”. Cháu thì chưa lao động, cháu ăn cái “vung” nhỏ thôi. Cháu nhớ khi về gia đình ăn cơm với bố mẹ, cháu phải biết chia phần. Bố mẹ đi lao động cả ngày, bố mẹ phải ăn phần to. Cháu chia cho bố mẹ phần to, cháu ăn phần nhỏ thôi. Cháu đừng giành ăn phần to của bố mẹ nhé…

Một cựu chiến binh nghe chuyện xong nói:

- Bác dạy cán bộ đấy! Làm tùy sức, hưởng tùy năng… xã hội chủ nghĩa đấy! Còn cái anh làm ít ăn nhiều, ăn vụng, ăn trộm thì còn lâu, còn “Tết”, đất nước mới khá lên được…

7. Nhân dân ăn thế nào Bác cũng ăn như thế

Những ai đã trải qua kháng chiến chống Mỹ, ở Hà Nội đều đã biết “cơm độn”. Độn mì sợi là sang nhất. Độn ngô cám, độn mì bột, độn bo bo. Cái “anh” này quá lắm. Giã, ngậm bột trước rồi nhưng anh ra vẫn khó tiêu.

Biết nhân dân, cán bộ bắt đầu ăn độn, Bác bảo:

- Các chú thổi cơm độn cho Bác. Nhân dân, cán bộ ta ăn độn bao nhiêu phần trăm, độn cho Bác từng ấy, giống như cán bộ với dân.

Năm ấy Bác đã 75 tuổi rồi, anh em nhìn thấy Bác ăn độn mà xót quá, nước mắt cứ chực chảy. Mấy ngày sau, mới thưa với Bác là có quy định cụ già trên 70 tuổi không phải ăn độn xin Bác đừng ăn độn nữa.

Bác lại nói:

- Không! Bác cũng nhiều tuổi, nhưng Bác còn khỏe. Thế thì Bác theo cán bộ. Cán bộ thế nào thì Bác thế ấy. Cứ thổi tiếp đi cho Bác ăn.

Anh em xay ngô cho thật nhỏ, độn “gọi là”. Nhưng Bác biết bảo:

- 50 % kia mà!

Lại nghĩ cách lấy bột mì làm bánh. Bác chỉ ăn một bát cơm còn lại ăn một cái bánh mì, không bảo giờ ăn toàn cơm. Đi công tác cũng nắm cơm độn hoặc mang toàn bánh mì theo. Chỉ có bát canh nóng là cho vào phích mà thôi…

8. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi

Đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố bản “Tự phê bình” trước toàn thể nhân dân. (Bản này được đăng công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng vào ngày 28 tháng 1 năm 1946).

Mở đầu, Chủ tịch viết:

“Vì yêu mến và tin cậy tôi, mà đồng bào giao vận mệnh nước nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bờ bến hạnh phúc của nhân dân”.

Sau khi nêu lên những công việc làm việc trong hoàn cảnh khó khăn, Người tự nhận xét: “Ngoài những việc đó, Chính phủ do tôi đứng đầu, chưa làm việc gì đáng kể cho nhân dân. Tuy nhiên người trong ban hành chính làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch… Người đời không phải là thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chi sợ không biết kiên quyết sửa nó đi…

… Những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi”.

Cuốn bản “tự phê bình”, Bác Hồ thân yêu của chúng ta viết: “Tôi mong đồng bào ra sức giúp tôi sửa chữa những khuyết điểm đó bằng nhiều cách, trước hết là bằng cách thi hành cho đúng và triệt để những mệnh lệnh của Chính phủ”.

Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi.

9. Một năm hai lần đến thăm trại giam

Ngày 18 tháng 1 năm 1946, mới 5 tháng sau ngày 19 tháng 8, nhân dân ta giành được chính quyền ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lần đầu đi kiểm tra công tác “giác ngộ” những người lầm lỗi ở nhà giam Hỏa Lò và ở Nha công an.

Tháng 1 năm 1946 là một tháng trong những tháng “ngàn cân treo sợi tóc” của nước cộng hòa non trẻ Việt Nam. Và ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sáng sớm đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ H.Truman qua bài diễn văn ngày 28 tháng 10 năm 1945 của Tổng thống. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã viết trong thư lên án sự trở lại của quân đội Pháp và yêu cầu Tổng thống Mỹ “can thiệp ngay lập tức và có giải phóng để nhân dân Việt Nam thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đó”.

Thư viết xong, đã thấy một cán bộ của Văn phòng phủ Chủ tịch, trình Chủ tịch nước ký một loạt sắc lệnh, trong đó có sắc lệnh giải tán tổ chức quỹ cứu trợ mang tên Toàn quyền Đông Dương Brêviê và của Hội bảo trợ Phụ nữ và Nhi đồng An Nam do chính quyền cũ tổ chức, để lại.

Sau đó, Hồ Chủ tịch tới nhà giam ở trên phố Hỏa Lò. Người đến đây với tư cách người ông, người cha, xót thương cho những con cháu lỗi lầm, nước đã độc lập tự do mà học còn ngồi trong bốn bức tường nhà tù.

Bác đi một vòng xem nhà bếp, nhà ăn, phòng tắm, phòng giam. Ngôi bên họ, không sợ hôi hám, bẩn thỉu, Bác nghe những đứa con nhẹ dạ, không hiểu biết đầy đủ luật pháp đã phạm sai lầm phân trần. Thông cảm với sự hồi tâm, hối tiếc của những người bị giam giữ, Bác khuyên học mau chóng sửa chữa để xứng đáng là công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, để góp công, góp sức vào công cuộc kiến thiết nước nhà…

Nước mắt lưng tròng, những người đeo số tù ấy không ai vận động ai đều đứng lên hô to: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”

Họ có biết đâu là Hồ Chủ tịch của họ cũng rưng rưng nước mắt. Bác nói: “Nên đổi chữ trại giam thành khu giác ngộ”. Giác ngộ là danh từ nhà Phật. Tự mình răn mình, lánh xa điều ác, chăm giữ điều thiện để trở về với con người chân chính, là giác ngộ. Bác không vui, dù rằng nếu có đổi ra “Khu giác ngộ” cũng là “trại giam” mà thôi… ý xót thương, tấm lòng bao dung của Bác muốn cho cán bộ trại không nên coi đấy là nơi đọa đầy họ và họ cũng chẳng nên phẫn chí, cùng đường ở nơi “đầy đọa” này…

Có lẽ hình ảnh những con người Việt Nam ấy, sau 80 năm nô lệ, chưa được độc lập tự do luôn trở về trong tâm trí Bác.

Mười tháng sau, mới 2 ngày sau khi từ Paris về Hà Nội, Bác lại đến thăm “Khu giác ngộ”, thăm số công an viên đang chuẩn bị đi làm nhiệm vụ.

Nói chuyện với trại viên “Khu giác ngộ”, Bác an ủi họ: “Anh chị em vì hám lợi mà làm sai nên phải vào đây chờ pháp luật xét xử”. Nhưng khi gặp cán bộ khu, Bác căn dặn: “Nên chăm sóc hơn đối với người bị giam. Phải xét ngay và xét kỹ cho họ khỏi bị oan uổng”.

Trong cơn lốc của cuộc cách mạng, trong buổi đầu lập nước, tránh sao khỏi những việc oan uổng trong dân… Bác biết và Bác nói hộ lời của dân “xin đừng giam lâu, xin đừng xét oan…”

 

Trích trong 120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh


Số lượt người xem: 5146 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày