SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
3
1
7
8
2
2
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Thứ Năm, 25/10/2012, 10:25

Những câu chuyện kể về Bác - Kỳ 14

  

Bác Hồ thǎm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc năm 1958

  

1. Trị cái gì? sự cái gì?

Bác Hồ không ưa lối dùng chữ nước ngoài để nói hoặc viết, trong khi có thể dùng chữ nước mình. Có một câu chuyện của Bác về hai chữ “trị sự”.

Năm 1951, Bác thăm báo Nhân Dân, bấy giờ đang “đóng quân” tại Bắc Cạn, Bác đi vào một căn buồng làm bằng tre nứa, thấy một người ngồi. Bác hỏi: “Chú làm việc gì?”, “Thưa Bác, làm trị, sự ạ”. Bác lại hỏi: “Trị cái gì? Sự cái gì?”. Anh cán bộ không hiểu chữ “trị, sự” là gì, cũng không hiểu ý Bác phê bình “dốt hay nói chữ” nên “thật thà” thưa:

- Dạ, trông nom việc in và phát hành báo ạ…

Bác không nói gì, đi ra…

Mấy chục năm sau, số cán bộ đi theo Bác năm ấy mới “hiểu” ra được vì sao Bác không nói gì, không cần nói gì nữa, vì chính Người nói “trị sự” cũng chẳng hiểu mình “trị” cái gì, “sự” cái gì.

2. Căn buồng người thợ điện

Cuối năm 1954, từ Việt Bắc về Hà Nội, Bác Hồ ở lại Nhà thương Đồn Thủy – nay là Viện Quân y 108, Hà Nội. Ngày 19 tháng 12 năm đó, Bác mới đến ở khu nhà nhỏ trong khu Phủ Chủ tịch.

Trước đó vài ngày, Bác đã đến Phủ Chủ tịch. Lướt qua các nhà cao, Bác đi thẳng đến khu nhà thấp, tồi nhất, chỉ vào căn buồng nhỏ và nói:

- Bác ở đây.

Đây  là căn buồng của người thợ chữa điện, rộng chừng 12 mét vuông, bên cạnh có 3 buồng nhỏ. Hôm Bác đến dọn nhà, căn phòng của người thợ điện ấy còn đặt một bộ phận máy nổ, sàn đầy vết dầu mở. Anh em khuân máy đi, quét tước, dọn dẹp, vừa làm vừa băn khoăn.

Bác chỉ ở 1 trong 4 phòng. Phòng của Bác kê cái gì cũng một – một giường, một bàn, một ghế, một tủ nhỏ đựng quần áo. Đến bữa. Bác sang buồng bên dùng cơm. Phòng làm việc của Chủ tịch nước nguyên là của người thợ điện. Bác ở đây không đủ ánh sáng. Mùa đông 8 giờ sáng còn phải để đèn, chiều 3 giờ đã phải bật đèn. Cái phòng này, người thợ điện cũng chỉ nghỉ và ngủ, chứ không ở. Mùa hè về, nắng hắt vào sân xi măng, mặt đường hắt lại vào phòng của Bác, nên rất nóng. Các đồng chí cán bộ cấp trung, cấp cao được “phân phối” những ngôi nhà, hoặc mượn biệt thự, vào làm việc với Bác, Bác không cho đến phòng này nhiều. Anh em thương Bác quá, đã nhiều lần “xin” Bác chuyển đến một nơi khác, nhưng Bác không nghe.

Như muốn để trả lời anh em, buổi tối mùa hè Bác thường cùng anh em đến thăm những khu phố cổ Hà Nội, những ngôi nhà như cái hộp trên những con đường hẹp, bàn cờ của Thủ đô. Bác chỉ vào số đông đồng bào đem chõng, rải chiếu ra nằm trên hè, rồi nói:

- Đồng bào còn cực khổ như thế này, Bác “được” ở trong buồng người thợ điện ấy cũng phong lưu lắm. So với ngày ở lán trên rừng, ở hang, ở nhà sàn, so với đồng bào, Bác cũng đã sướng hơn rồi… Thôi, Bác cứ ở đấy, không đi đâu hết.

Bác “ở đấy” 4 năm, cho đến ngày 17 tháng 5 năm 1958, nhân dịp Bác đi thăm một số nước bạn, anh em ở nhà bàn nhau “làm trộm” (tất nhiên được sự đồng ý của cấp trên, nhưng không để Bác biết, làm như kiểu “việc xong rồi”) một cái nhà sàn như ta thấy hiện nay). Được các đồng chí Trung ương báo cáo lại, một thời gian sau Bác cũng đồng ý chuyển ra nhà sàn.

Năm 1967, giặc Mỹ đưa máy bay ném bom ác liệt ở miền Bắc, có lần anh em đề nghị Bác đến ở nhà khách to (nhà của Toàn quyền Pháp trước đây), bây giờ đã là nhà tiếp khách của Chính phủ, Bác không đồng ý. Năn nỉ mãi, Bác nói:

- Bác không ở vì ở đây có mùi hôi thế nào ấy.

Anh em tưởng thật định rủ nhau làm tổng vệ sinh tầng trên, tầng dưới, tầng hầm thật sạch sẽ để “xin” Bác ra.

Bác lại nói:

- Bác nói hôi là hôi mùi Toàn quyền Pháp ngày xưa thôi…

Và Bác vẫn cứ ở  nhà sàn, trừ những lần phải tiếp khách.

Một lần, đi cùng đoàn đại biểu nước ngoài, Bác chỉ vào ngôi nhà tiếp khách của Chính phủ nói “Tôi có ý định khi đánh giặc xong, nếu chưa xây kịp cung Thiếu nhi thì tạm dùng cái nhà này dành cho các cháu”…

3. Một mình Bác có 4 “chánh văn phòng”

Được đọc các tư liệu, tài liệu của Bác Hồ tại Văn phòng Trung ương Đảng, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng cách mạng, điều dễ nhận ra đối với người tiếp cận là Bác tự tay  viết, tự tay đánh máy, gửi, nhận công văn, một mình làm hết, không có ai là “thư ký”. Thực ra cũng chẳng ai làm nổi thư ký của Bác, cũng chẳng ai chuẩn bị được đề cương bài nói, diễn văn giúp Bác. Những năm 60, Bác có ủy nhiệm đồng chí này, đồng chí kia giúp Bác xem, đọc một số tài liệu, thư từ. Các việc quan trọng khác, Bác vẫn tự làm. Người nào, Bộ nào có đưa điện, thư viết sẵn, thế nào cùng được Bác sửa lại.

 

Những năm kháng chiên chống Pháp, trong khoảng từ năm 1946 đến hết năm 1947, Bác Hồ không có “trụ sở”, không có “nhà riêng”. Bác đi nơi này đến cơ quan nọ, “hành quân” liên tục. Khi dừng ở đâu, chặt vài cây bương, cây luồng, cây vầu, quây nứa, lợp lá làm một căn nhà nhỏ hai gian, một gian để Bác nghỉ, một gian làm nơi nghỉ của anh em cùng đi.

Sau chiến dịch Thu Đông 1947, Bác mới cho làm một cái nhà sàn để đỡ bị hơi ẩm núi rừng. Cái nhà sàn này cũng không phải là nhà “cố định”. Bác chỉ ở độ 5,6 tháng lại di chuyển để giữ bí mật, để tiện cho công tác.

Bác yêu cầu làm nhà sàn cao bao nhiêu, rộng bao nhiêu, bàn làm việc của Bác đặt ở đâu, rất cụ thể. Nhà tuy nhỏ - anh em thường gọi là “chuồng chim câu” (chỉ có một mình Bác ở) nhưng thuận tiện để Bác làm việc.

Bác còn yêu cầu là từ bàn làm việc của Bác, Bác có thể với tay đến 4 cái cột để ở gần bên. Vì thế các nhà “kiến trúc” - mà Bác gọi tắt theo kiểu Việt Nam cho tiện là ông “Kiến”, phải tìm cách đưa 4 cột nhà vào giữa, không kể các cột khác. Không ai hiểu ý Bác ra sao cả.

Trong khi làm việc, Bác vẫn thường xuyên kiểm tra “tiến độ”. Làm xong, Bác lên xem lần cuối, đồng ý. Bấy giờ Bác mới đi chặt 4 ống bương to, rất sẵn ở trong rừng, buộc vào 4 cột. Sau đó, Bác viết tên bốn đồng chí phụ trách Đảng, Chính phủ, Quân đội, Mặt trận – theo hồi ký của một đồng chí bảo vệ đó là tên các đồng chí Thận (tức đồng chí Trường Chinh), Tô (đồng chí Phạm Văn Đồng), Văn (đồng chí Võ Nguyên Giáp) và Việt (đồng chí Hoàng Quốc Việt). Công văn đến chia ra 4 ngành theo ống bương. Ngồi vào bàn làm việc Bác lấy công văn trong 4 ống bương ra, xem xét, giải quyết, viết thư trả lời. Cuối giờ, Bác lại bỏ các thư từ, công văn gửi theo 4 ngành với 4 tên các đồng chí vào các ống bương quy định.

Anh em gần Bác quen gọi 4 ống bương ấy là “tứ trụ”. Có người còn nói: 4 ống bương đó là bốn ông “Chánh Văn phòng” của Bác.

4. Năm ấy Bác Hồ không đi thăm rừng Cúc Phương

Các chiến sĩ và cán bộ Cục hàng không đã đưa Bác đi công tác trên cái máy bay của nhân dân Liên Xô tặng mang biển số Mi-4 VN 50D. Trong các chuyến đi gần và ít người, các đồng chí đã đề nghị Bác dùng trực thăng như trong các chuyến đưa Bác đến Lạng Sơn, Tân Trào, Quảng Ninh...

Một lần Bác đi công tác Vĩnh Phú. Theo chương trình thì chiều là Bác đi ô-tô về Hà Nội. Nhưng lần ấy, tối mịt Bác mới ra về được. Anh em trong đoàn vừa lo đường sá, vừa sợ Bác mệt, nên xin điều một máy bay trực thăng để đưa Bác về. Trực thăng đỗ ở sân bóng đá Vĩnh Yên.

Tỉnh ủy thưa với Bác và đề nghị Bác lên "trực thăng" về Hà Nội.

Bác cảm ơn, rồi nói:

- Bác có ôtô. Bác đi ôtô thôi, Bác về Hà Nội bằng ôtô. Chú nào đã điều máy bay lên thẳng thì chú ấy ra ngồi máy bay mà về...

Ðầu năm 1969, sau khi nghe Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp báo cáo tình hình rừng cây bị phá hoại, phần thì bom đạn, phần thì dân đốt phá, đẵn làm gỗ, làm củi và "cứ đà này, vài năm nữa ta sẽ hoàn thành kế hoạch... tiêu diệt rừng" (1).

Nhân đó, Tổng cục trưởng mời Bác vào thăm rừng Cúc Phương. Tuy sức không còn khỏe, nhưng Bác vui vẻ nhận lời và nói:

- Phải đi thăm hang người Việt cổ...

Bác đề nghị đồng chí Nguyễn Lương Bằng thu xếp cho chuyến đi.

Anh em đề nghị Bác không đi ôtô nữa mà đi bằng "trực thăng".

Trước hết, Bác uốn nắn:

- Tại sao chú không gọi là "lên thẳng" mà cứ là "trực thăng?" "Trực thăng" hơn gì "lên thẳng"?

- Bác đi ôtô. Các chú cứ cho rằng hễ là Chủ tịch Ðảng, Chủ tịch nước đi đâu muốn "đi" gì cũng được à? Không phải thế đâu! Ðể Bác khỏe lên, Bác đi ôtô đến thăm Cúc Phương. Ði máy bay lên thẳng thì thôi, chờ dịp khác. Máy bay lên thẳng để dành khi nào có đồng bào bị tai nạn, bị đau nặng ở vùng rừng núi hẻo lánh khó chạy chữa thì đưa đồng bào nhanh chóng vào bệnh viện. Hay khi mưa bão, lụt lội cần hộ đê, cứu dân, thì dùng.

Lần ấy chỉ vì không chịu "đi" máy bay lên thẳng mà Bác không đến được Cúc Phương,  mãi mãi anh chị em công nhân, cán bộ trông nom rừng Cúc Phương không đón được Bác để Bác thực hiện một điều mong ước nhỏ.

Ngày nay, trong rừng Cúc Phương vẫn còn có cái thang của công nhân, cán bộ làm để Bác leo lên thăm hang người Việt cổ. Cái thang ấy không được in dấu chân Bác, và ngày ngày nhìn vào thang anh chị em càng thương nhớ Bác.

Họ đặt tên cho cái thang ấy là "Cái thang thương nhớ".

5. Vấn đề là phương pháp

Ông Thu Lâm – cán bộ của Trường Phổ thông lao động và Trường Bổ túc văn hóa công nông kể rằng: Năm 1951, Trường Phổ thông lao động khai giảng rồi sau đó sáp nhập với Trường bổ túc văn hóa công nông. Nhiều cán bộ, chiến sĩ quân đội như các anh hùng La Văn Cầu, Nguyễn Thị Chiên, chiến sĩ tình nguyện quân trên chiến trường Lào, Phạm Đức Dương, nguyên Viện trưởng Viện Đông Nam Á cùng một số cán bộ dân chính, con em cán bộ được dự học, trường đã bồi dưỡng kiến thức cho trên dưới 3.500 học sinh để thi vào các trường đại học, cao đẳng. Học viên nhà trường nhiều người sau đó đã trở thành cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, quân đội, trong đó có nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải.

Bác đã đến thăm trường 3 lần, vào cuối  năm 1956, năm 1957 và 1959.

Năm 1957, vào lúc học sinh, công nhân viên, giáo viên, cán bộ nhà trường lên tới 4.000 người, giữa mùa hè, bỗng thiếu nước sinh hoạt trầm trọng. Các vòi dẫn nước về không chảy nước. Nhà trường phải thuê xe chở nước về phân phối định lượng cho mỗi người. Vì không đủ nước nên tình hình học tập trở nên loạc choạc, năng suất, kết quả học tập sút kém, tinh thần cán bộ, học viên trở nên căng thẳng. Ban giám hiệu nhà trường cũng đành bó tay không có cách nào giải quyết tích cực hơn.

Việc ấy đến tai Bác.

Một buổi sáng sớm thứ sáu, không nhớ cụ thể vào tháng nào, nhưng hẳn là giữa mùa hè năm 1957, cán bộ cơ quan bảo vệ Bác đến báo cho trường biết là chiều nay Hồ Chủ tịch đến. Thế là từ Ban giám hiệu, cán bộ giáo viên, học viên bỏ cả nghỉ trưa, làm tổng vệ sinh, quét dọn nhà ăn, nhà bếp, trong trường, ngoài ngõ… Hôm ấy, sau khi ở trường về, Bác hỏi một đồng chí bảo vệ: “Chú nào để lộ bí mật cho nhà trường biết Bác đến nên “nó”” mới vệ sinh nhà bếp, nhà ăn, nhà xí sạch sẽ thế!.

2 giờ chiều hôm ấy, Bác đến. Sau khi thăm nơi ăn, nơi ngủ, bếp núc, bể chứa, vòi nước, Bác lên thẳng hội trường. Bác không nói chuyện thời sự, tình hình gì mà hỏi ngay:

- Ở đây, cô chú nào nhiều tuổi và hoạt động lâu năm nhất?

Một lát sau, có một học viên người miền Nam, tóc đã hoa râm đứng lên:

- Thưa Bác, cháu hoạt động từ năm 1930.

Bác hỏi vặn lại:

- Thế chú hoạt động có lâu năm hơn Bác không?

Đồng chí “năm 1930” đứng như trời trồng không trả lời được. Bác ra hiệu cho ngồi xuống. Quay sang hiệu trưởng, Bác hỏi:

- Nhà trường có bao nhiêu học viên?

Đồng chí Nguyễn Đình Thâu là Hiệu trưởng thưa:

- Thưa Bác, 3600 học viên ạ.

Hiệu phó Lê Sơn khẳng định:

- Dạ thưa Bác, 3550 học viên ạ.

Đồng chí quản trị nắm quân số chấm cơm lại  nói:

- Thưa Bác, đúng quân số ăn cơm là 3.512 người.

Bác nghiêm nét mặt, nói:

- Có một con số mà mấy chú “đá nhau”, Thật là  “vua liêu” chứ chẳng phải quan liêu nữa.

Bác quan về phía học viên, hỏi:

- Các cô, các chú mỗi người có thể đào “cho Bác” một khối đất được không?

Cả hội trường, nhất là học viên là bộ đội đều thưa to: “Dạ, được ạ”. Nhưng cũng chưa hiểu đào đất để làm gì?

Ra hiệu cho mọi người giữ trật tự. Bác nói tiếp:

- Cứ cho là trường có 3.500 người. Mỗi người một mét đất đào, như vậy cả trường đào được 3.500 mét đất. Đào một cái giếng để có nước cần bao nhiêu mét đất?

Bác đặt câu hỏi, nhưng cả Ban giám hiệu, toàn thể nhà trường biết là Bác răn dạy về cái khoản nước rồi, ai nấy đều im lặng, như đã nhận thấy lỗi.

Bác nói:

- Tại sao không tự bảo nhau đào giếng lấy nước mà dùng, lại cứ ngồi kêu ca Hiệu trưởng, kêu ca Đảng ủy, kêu ca Nhà nước?

Đồng chí Hiệu trưởng đứng dậy thưa với Bác sẽ thực hiện lời Bác dặn.

“Mấy mươi năm đã qua, mà tôi vẫn nhớ mãi buổi hôm ấy, chỉ một lần được Bác đến thăm mà được học hai bài học sâu sắc.

Một là, đã làm người dân, người cán bộ, đảng viên phải lấy tinh thần phục vụ vì dân, vì nước không nên “lên mặt”.

Hai là, trong công việc, cách giải quyết khó khăn, mâu thuẫn tức là phương pháp rất quan trọng, có khi là quyết định. Có cách làm tốt, đúng mới thực hiện đươc chủ trương đường lối, mới giải quyết được vấn đề” – Đồng chí năm 1930 kể.

6. Chia ngọt sẻ bùi

Đầu năm Ất Mùi 1955, Hồ Chủ tịch đến thăm Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 được mang danh hiệu “Sư đoàn Chiến thắng” lúc bấy giờ đang đóng quân tại Bắc Ninh.

Người đi thăm nhà ăn, nhà bếp, nơi ở của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Hòa bình trên nửa nước chưa được một năm, nhân dân và Chính phủ cũng chưa có điều kiện để cải thiện đời sống cho bộ đội. Quân và dân cũng vừa mới bước chân từ trên rừng xuống đồng bằng, xuống biển, cũng vừa mới đồng cam cộng khổ hôm nào. Chắc là Chủ tịch nước đã thấy trong “xây dựng chính quy hiện đại” là khẩu hiệu của đơn vị có cái gì đó “chưa ổn” nên Người nhắc nhở:

- Ta còn nghèo, nhưng cán bộ đừng ỷ vào cái nghèo mà lơ là việc chăm sóc bộ đội. Có ít mà cán bộ hưởng cả để chiến sĩ không có thì như thế là không biết thương yêu chiến sĩ…

Ít ai biết là sáng ba mươi Tết năm đó, năm hòa bình đầu tiên Bác Hồ đã mời toàn bộ đội cành vệ, những chiến sĩ bảo vệ Bác trên Việt Bắc đến ăn cơm Tết với Chủ tịch nước.

Có anh em định đến đúng giờ, nhưng nhiều người lại muốn đến sớm để được gặp Bác lâu hơn mặc dù nghĩ rằng chưa đến giờ chắc Bác cũng chưa có mặt.

Tới nơi, chủ nhà là Bác đã chờ khách từ rất sớm. Bác niềm nở, vui mừng bắt tay từng chiến sĩ, hỏi:

- Các chú đi đủ cả chứ! Sao ít thế?

Đồng chí phụ trách thưa:

- Thưa Bác, có mấy đồng chí ở xa, được tin không về kịp ạ.

Bác nói:

- Bác sẽ đón tiếp các chú ấy sau.

Khi mọi người ngồi vào bàn, Bác đứng lên;

- Tết năm nay, Bác mời các chú đến ăn Tết với Bác cũng như mọi năm trên Việt Bắc thôi…

Bác tự tay bưng đĩa thức ăn ngon nhất đi vòng quanh bàn, sẻ vào bát từng người. Bữa cơm Tết có đủ các món ăn dân tộc cổ truyền. Bác giục các chiến sĩ lúc thì gắp giò, lấy miếng, khi thì xắn bánh chưng…

Bác nhìn các chiến sĩ vừa ăn, vừa nói chuyện vui vẻ. Có anh hồi tưởng:

- Thưa Bác, Bác có nhớ năm nào, đêm ba mươi, Bác vác một bị cam sang chia cho chúng cháu không ạ?

- Năm 1949 đấy.

Rồi Bác nói:

- Hôm nay là ngày Tết Nguyên đán, Bác cháu ta cùng vui Tết và cùng nhau nhớ lại những ngày gian khổ trên núi rừng Việt Bắc…

Những ngày gian khổ trên Việt Bắc trong những năm kháng chiến chống Pháp là những tháng, năm chỉ có cơm gạo hẩm, muối tranh… Bác cháu có ngày tránh địch không có một hạt cơm vào bụng. Bác đã ít ăn, công việc nhiều nên người đen sạm đi, anh em nhìn Bác mà rưng nước mắt. Thế mà, có cái gì ngon cũng nhường, cũng chia, mình chỉ giữ phần ít, nhiều nhất là cũng bằng mọi người.

7. Ta không ăn thì đồng bào ăn

Sau khi nhân dân ta tổng khởi nghĩa, giành được chính quyền, Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi “chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”. Người hô hào đồng bào ra sức tăng gia sản xuất không để một tấc đất hoang hóa. Tuân theo lời dạy của Hồ Chủ tịch, nhân dân ta đã tận dụng triệt để diện tích, trồng khoai trên các ụ chiến đấu, vỡ đất khai hoang trồng sắn, một số vườn hoa ở công sở đã trở thành những luống rau xanh.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Bác lên Việt Bắc, nay ở bản này, mai đến làng khác nhưng Bác vẫn duy trì công việc tăng gia sản xuất, phát động thi đua trồng rau, đặt giải thưởng cho “chiến sĩ tăng gia”, định tiêu chuẩn trọng lượng rau mỗi người phải nộp cho nhà bếp.

Cuối năm 1949, vườn su hào, bắp cải của các chiến sĩ cảnh vệ đang phát triển. Anh em thỉnh thoảng lại sang thăm các luống rau của Bác “tìm hiểu” cách chăm bón của Bác để áp dụng và ngấm ngầm thi đua với Bác.

Đang trông chờ một vụ bội thu thì có lệnh di chuyển cơ quan. Các chiến sĩ cảnh vệ kháo nhau:

“Không biết cái ông nào đạo diễn oái ăm thế…” Anh em bảo đành “gặt lúa non” vậy, định bụng trước hôm đi sẽ “nhổ hết” giải quyết chiến trường. Có anh còn nêu sáng kiến bí mật đột kích vào vườn của Bác “tận thu” ớt xanh, đỏ, rau non, già và cả rau thơm. Và muốn làm được việc này, trước hết phải đi “trinh sát”.

 

Vào buổi chiều, một anh lân la giả vờ tạt qua vườn của Bác. Anh thấy Bác đang xới đất, đặt hạt trồng bầu, bí, mướp… Mừng quá, “trinh sát” về báo tin “không di chuyển” nữa đâu!

- Ai bảo thế?

- Đấy, “ sang” mà xem Bác đang trồng mới rau.

Tiểu đội trưởng nghi nghi, ngờ ngờ, đích thân tới kiểm tra nguồn tin.

- Thưa Bác, cơ quan không chuyển nữa ạ?

- Chuyển chứ, sao lại không?

- Vì cháu thấy Bác đang trồng bầu… nên nghĩ rằng cứ ở đây.

- Bác đứng lên, cười tủm tỉm rồi nói:

- Các cháu sao lại nghĩ ngắn vậy. Ta cứ trồng, rau lên xanh, ta không ăn, đồng bào ăn, lo gì. Mà con đường này các chú còn qua lại. Ra Tết  không có rau, đến mà xin đồng bào. Mà này, chớ có mà cắt su hào non đấy!

Tiểu đội trưởng thè lưỡi:

- Cái gì ông Cụ này cũng biết trước.

8. Chú mặc cũng như tôi mặc

 Trong kháng chiến chống Pháp, nhân dân ta từ các cụ phụ lão, phụ nữ, thiếu niên nhi đồng, các tăng ni, phật tử, đồng bào theo các tôn giáo thường gửi khăn mặt, áo len, áo trấn thủ tặng Bác. Đồng bào biết rõ, tuy là Chủ tịch nước nhưng nước còn nghèo, Bác lại sống giản dị, tiết kiệm nên chắc là không muốn may mặc gì. Đồng bào sợ Bác lạnh, không chống đỡ được cái rét Việt Bắc, núi đá, sương mù…

Bác nhận được áo tặng, bao giờ cũng có thư cảm ơn, nhờ các chiến sĩ giao thông Văn phòng Chính phủ, Ủy ban nhân dân chuyển tới. Quà áo thì nhiều, nhưng nào Bác có mặc. nay Bác tặng ông Đặng Phục Thông, mai Bác lại nhờ người đến tặng bác sĩ Trần Hữu Tước. Đọc báo biết tin có chiến sĩ liên lạc đạt thành tích cao, Bác chuyển tới đơn vị một bộ quần áo tặng đồng chí ấy. Gặp ai, không có khăn quàng, Bác cởi chiến khăn đang quàng quấn vào cổ khách…

Bác cười nói:

- Cụ mặc, chú mặc cũng như tôi mặc. Chú ấm cúng như tôi ấm.

Mùa đông năm 1948 ở Việt Bắc có lẽ là mùa đông rét nhất trong những năm kháng chiến chống Pháp. Quân dân ta tuy đã đánh tan cuộc tấn công Thu Đông 1974 của giặc Pháp nhưng cũng chưa có điều kiện để trang bị nhiều quần áo, vũ khí cho bộ đội. Năm ấy ở vùng Thái Nguyên – Tuyên Quang đến 9-10 giờ sáng mà sương mù vẫn chưa tan, mặt trời vẫn chưa rạng để sưởi ấm giúp cho con người. Rét lạnh, sương giá nên rất dễ bị ho. Đi phục kích địch mà không giữ được ấm cổ, ho lên vài tiếng có khác gì “lạy ông, tôi ở bụi này”. Không đi đánh địch, nhưng ở ATK (an toàn khu) gác đêm mà bị ho thì cũng không có lợi. Anh em đã xin, đã mua và trồng gừng để ngậm, cố giữ ấm ngực, để không phải ho.

Có một chiên sĩ cảnh vệ trẻ, đến phiên gác tại Văn phòng Phủ Chủ tịch, đêm đã khuya vẫn thấy ngọn đèn trong phòng Bác Hồ sáng. Anh biết là Bác đang còn làm việc và anh tự bảo là phải giữ cho đừng ho. “Ho lên, là gay lắm”, như lời Tiểu đội trưởng dặn. Anh xoa tay vào cổ, ngậm miệng, bịt tay chắn mũi để không cho hơi lạnh vào người… Nhưng rồi anh vẫn ho, ho nhiều…

Nghe tiếng ho, Bác đi ra, đến bên cạnh, nhìn anh quần áo mỏng manh, Bác nói nhẹ:

- Cháu mặc thế thảo nào chẳng lạnh.

Bác quay vào nhà lấy ra một cái chấn thủ, đưa cho anh chiến sĩ:

- Cháu mặc vào cho đỡ rét.

Bác muốn anh chiến sĩ trẻ “cơm chưa no, lo chưa tới” này đỡ khó khăn vất vả. Anh chiến sĩ lại thương Bác nhiều tuổi, trăm công nghìn việc, nên không dám nhận.

Như hiểu ý anh, Bác giục.

- Chú cứ giữ lấy mà mặc. Bác đã có áo khoác rồi. Mặc như thế này làm sao mà chẳng ho. Thôi, mặc vào cháu.

Và từ tay Bác lồng cái áo trấn thủ vào vai anh lính trẻ.

9. Không nên có ít mà hưởng cả

Trung đoàn 141, Đại đoàn Chiến Thắng trong kháng chiến chống Pháp đã lập được nhiều thành tích, chiến công.

Đầu năm 1955, Bác Hồ đến thăm và chúc mừng xuân mới đoàn tại Bắc Ninh.

Đất nước vừa mới bước ra khỏi cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ. Bao nhiêu khó khăn, thiếu thốn chưa dễ ngày một ngày hai khắc phục được. Bộ đội vẫn còn thiếu áo quần, tiêu chuẩn sinh hoạt phí còn thấp… Tuy nhiên, một bộ phận quân nhân về ddongs quân ở thị trấn, thành phố đã chớm bộc lộ tư tưởng hưởng thụ. Tinh thần đồng cam cộng khổ, tình nghĩa cán bộ và chiến sĩ có những dấu hiệu không được như trước.

Sau khi thăm nơi ăn, chốn ở của Trung đoàn, nói chuyện với chiến sĩ, cán bộ. Bác thân mật dặn dò:

- Ta còn nghèo nhưng cán bộ đừng ỷ lại cái nghèo mà lơ là chăm sóc bộ đội. Có ít mà cán bộ hưởng hết để chiến sĩ không có, như thế là không biết thương yêu chiến sĩ.

10. Nhớ một lần Bác đến thăm

 Mồng một Tết năm 1960, tôi từ Trường Lục quân Sơn Tây lên Nông trường Ba Vì để thăm các bạn miền Nam ở đấy.

Vừa đến nông trường thì có một đoàn xe chạy tới. Một đồng chí ở trong xe bước ra mở cửa xe. Tôi thấy một cụ già mặc áo kaki màu vàng đã bạc màu, râu trắng, vừa đi vào doanh trại vừa vẫy tay…

Bỗng ai đó la toáng lên:

- Bác Hồ! Các đồng chí ơi! Bác Hồ!

Thế là chúng tôi chạy theo vây quanh lấy Bác. Ai cũng muốn đến gần Bác, sờ áo, nắm tay nên chật ních người là người. Đồng chí cảnh vệ phải nói:

- Các cậu đứng xê ra cho Bác thở với chứ!...

Bác cười, chúng tôi cũng cười. Bấy giờ mới có người nhớ ra là phải mời Bác vào nhà Ban chỉ huy.

Ban chỉ huy đi vắng, Bác bảo chúng tôi dẫn Bác lên hội trường. Hội trường ngổn ngang các “chiến tích” của đêm giao thừa hôm qua. Dưới đất, trên bàn đầy xác pháo, giấy kẹo, mẩu thuốc lá, xương gà… Thấy anh em bối rối dọn dẹp, Bác nói:

- Khách đến ai lại đi quét nhà.

Bác nhìn anh em rồi đột nhiên hỏi:

- Căng tin có bán “dao bào” không?

Đồng chí căng tin ngỡ Bác mua làm gì đó nên sốt sắng thưa:

- Dạ thưa Bác! Có bán ạ.

Không ngờ, Bác mới “chỉnh” cho:

- Lính nông trường cũng phải đẹp chứ. Sao các chú không cạo râu? Cạo râu vừa đẹp mình, đẹp quân nhân, đẹp quân đội.

Anh em nhìn nhau, anh nào cũng râu tóc bờm xờm, bẻn lẽn, ngượng quá, có anh cúi đầu xuống… Bác nói lảng sang chuyện khác:

- Năm nay các chú làm heo hay gà ăn Tết? Có gói bánh chưng không? Có nhớ miền Nam không? Có món gi miền Nam không…?

Anh em tranh  nhau đáp, nào là có bánh chưng, có dưa kiệu, chuối ngào…

Bác khen:

- Các chú giỏi đấy: Như vậy vui xuân phấn khởi chứ.

Một anh nào đó mạnh dạn vòi vĩnh:

- Thưa Bác! nếu có văn công Tổng cục phục vụ vài màn thì vui nhất ạ!

Bác cười nói:

- Cái vui đó chính các chú làm ra mới ý nghĩa. Các chú vui hát cùng nhau, tự nhiên hơn. Mình diện mình xem khoái hơn chứ…

Khoảng mười lăm phút sau Bác ra về. Chợt phía sau chị X bế con chạy đuổi theo Bác, hớt hải nói:

- Bác, cháu chúc Bác sống lâu trăm tuổi.

Bác bế cháu trai lên hỏi chúng tôi:

- Bác đố các chú có biết cháu bé này như thế nào không?

Chẳng ai trả lời được, Bác mỉn cười nói:

- Đây là cậu bé có cái đầu miền Nam nhưng cái đít là cái đít miền Bắc…

Anh em chúng tôi cười ầm lên, Bác trao em bé cho mẹ cháu. Khi xe đã chạy xa, chúng tôi vẫn còn thấy cánh tay Bác vẫy.

 

 

                                   Trích trong 120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh


Số lượt người xem: 3895 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày