SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
1
6
4
6
6
9
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Thứ Năm, 25/10/2012, 15:20

Những câu chuyện kể về Bác - Kỳ 15

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bộ đội diễn tập năm 1957

1. Sông có thể cạn, núi có thể mòn…

Sau ngày 6 tháng 3 năm 1946, tôi đang chiến đấu ở vùng ven thành phố Sài Gòn thì được giao nhiệm vụ về Mỹ Tho, Tân An tập hợp lực lượng để củng cố lại Khu 8, tổ chức tốt phong trào kháng chiến ở miền Trung Nam Bộ. Lúc này Xứ ủy và Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ và cả Bộ Chỉ huy Khu 8 đều mất liên lạc. Mỗi địa phương, mỗi cán bộ phải tự động và linh hoạt, vừa chiến đấu vừa vận động nhân dân chiến đấu phát huy hết khả năng để hoàn thành nhiệm vụ.

Tháng 6 năm ấy, chúng tôi nhận được thư Bác Hồ, gửi đồng bào Nam bộ trước khi đi Pháp đàm phán: “...Tôi xin hứa với đồng bào rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước. Đồng bào Nam Bộ đã hy sinh đấu tranh mấy tháng trường để giữ gìn non sông cho toàn nước Việt Nam. Cho nên đồng bào cả nước đều phải nhớ đến ơn đồng bào Nam Bộ…  Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

Cảm động biết bao những lời nói rút ra từ ruột gan trí óc của người cha già dân tộc suốt đời lận đận bôn ba vì dân, vì nước. Chúng tôi thấy vững tin ở thắng lợi.

Buổi họp công tác của chúng tôi lúc ấy thực sự biến thành một buổi lễ thiêng liêng hạ quyết tâm “hoàn toàn tin tưởng ở Bác Hồ. Đồng bào Nam Bộ hoàn toàn tin tưởng ở Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi nguyện đem hết sức lực và trí tuệ của mình xây dựng lực lượng cách mạng, chiến đấu dũng cảm để biểu thị lòng tin tưởng của chúng tôi và sự hậu thuẫn của đồng bào Nam bộ đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu”.

Lời hứa ấy của chúng tôi, của đồng bào Nam Bộ với Bác Hồ hôm ấy đã biến thành sức  mạnh và lòng tin không gì lay chuyển nổi, đã động viên chúng tôi vượt gian khổ, hiểm nguy để hoàn thành nhiệm vụ.

Giờ đây, mọi người chúng ta, nếu có thành công, hãy soi gương Bác Hồ mà khiêm tốn; nếu có sai lầm, hãy soi gương Bác Hồ mà công nhận và sửa chữa; lòng có ám muội, hãy thẹn khi nhìn ảnh Bác; chớ có nao núng, hãy nhớ về Bác mà quật cường…

Được như vậy, lo gì “dân ta không giàu, nước ta không mạnh”.

2. Bách niên giai lão

 Ngay từ phút đầu. Bác đã xem đến Đại hội “Những người viết báo” lần thứ 2 không khí sôi nổi và tươi vui. Có thể nói hội trường hôm ấy vang tiếng cười thỏa thê từ đầu buổi đến cuối buổi. Riêng tôi, và một số bạn khác, chúng tôi cười đến chảy nước mắt. Hôm ấy Bác vui lạ. Bước lên bục nói chuyện. Bác để chồng báo xuống và giơ hai tay ra hiệu bảo chúng tôi ngồi xuống, rồi Bác nói rất dí dỏm:

- Mời toàn thể “an tọa”!

Bác nhấn mạnh chữ “an tọa” cho vui nhưng thực ra tôi hiểu là Bác có ý bảo rằng những người viết báo là sính dùng từ như vậy. Chắc mọi người cũng hiểu thế, cho nên nghe Bác nói cả hội trường âm vang tiếng cười.

Bác nói, mọi việc đồng chí Trường Chinh và anh Hoàng Tùng đã nói đầy đủ. Bác chỉ nói vè nghiệp vụ thôi. Chúng tôi chăm chú nghe Bác nói về kinh nghiệm của Bác hồi viết báo ở Pháp, chuyện Bác dày công luyện tập khi viết một bài từ ngắn đến dài, rồi từ dài đến ngắn,…

Nhận xét về báo chí của ta, Bác khen là đã đạt được thành tích rất đáng kể. Bác vui vẻ nhận xét tỉ mỉ một số nhược điểm, khuyết điểm của các báo trong việc trình bày, trong văn phong, chạy tít, đưa ảnh… Mấy phút im lặng, Bác lấy ra một tập báo mà Bác mang theo, đã đánh dấu sẵn. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi, lo lắng, không biết báo mình, bài mình có “được” nêu lên không? Bác cầm một tờ báo hàng tuần có in ảnh một nữ công nhân đang ngồi, ảnh cỡ lớn, chiếm toàn bộ trang nhất. Bác giơ cao cho mọi người xem rồi hỏi:

- Cô này đang ngồi làm gì đây?

Chúng tôi cũng chịu. Chỉ biết đó là một cô công nhân cũng khá xinh, để trang nhất cũng đẹp. Thế là Bác chỉ cho biết, dùng một chiếc ảnh trên báo phải hết sức chú trọng nội dung, không được dễ dãi.

Quay sang một tờ báo bạn, Bác nói:

- Các chú là nhiều danh từ lắm! Thế “không phận” là gì?

- Thưa Bác, là… là vùng trời ạ!

- Thế gọi là “vùng trời” có phải ai cũng dễ hiểu hơn là dùng chữ “không phận” không?

- Thưa Bác, dạ đúng như vậy ạ!

Bác cười, khỏa tay cho ngồi xuống, Bác nói thêm:

- Các nhà báo phải có trách nhiệm, đừng để cho tiếng mẹ đẻ chúng ta mỗi ngày một mai một đi.

Bác lại lấy dẫn chứng:

- Chúng ta có hai chữ “vẻ vang” rất hay, lại không dùng, chỉ thích chữ “vinh quang”. Nhiều người làm thơ lại gọi là “quang vinh” cho nó hợp vần!

Bác lại lấy ra những tờ khác. Trên trang nhất tờ bào hàng ngày ấy có đưa tin về hai đoàn đại biểu trong phe xã hội chủ nghĩa cùng một ngày đến thăm nước ta. Bác chỉ vào đấy và phân tích:

- Như thế này là các chú bên trọng bên khinh. Hai đoàn cùng ngày tại sao lại đưa đoàn này lên trên, in chữ to, còn đoàn kia in chữ nhỏ, sắp ở dưới!

Thật là sáng mắt! Bác còn chỉ rõ những chỗ sai lầm làm lộ bí mật về tài nguyên của quốc gia trong việc tuyên truyền trên báo. Đối với các báo chưa chú ý đầy đủ đến đối tượng của mình phục vụ, cũng được Bác nhắc nhở nghiêm khắc. Đến phần “điểm báo” địa phương, Bác kể cho nghe một câu chuyện mà không ai nhịn cười được. Nhân ngày sinh nhật Bác, tờ báo ở địa phương nọ có đăng một số thư của đồng bào chúc mừng Bác. Có đồng bào muốn chúc Bác mạnh khỏe sống lâu, lại viết là “chúc Bác Bách niên giai lão”. Tờ báo ấy đăng nguyên văn như vậy.

Bác cười và nhắc lại với mọi người:

- Họ chúc Bác “bách niên giai lão” mà báo cũng đăng đấy!

Cái câu chúc mừng dành riêng cho cô dâu chú rể trong buổi thành hôn ấy, bỗng lại dành chúc thọ Bác làm mọi người càng cười dai dẳng. Thật chết cho cái bệnh sính chữ nghĩa.

3. Từ cái học đến cái ăn

 Cuối năm 1945, tôi được gọi đến Phủ Chủ tịch để lái xe riêng cho Bác. Những ngày đầu của Chính phủ, tôi cũng như tất cả nhân viên khác đều làm việc cách mạng mà không lãnh lương. Nhưng tôi lại thấy bao điều hạnh phúc khác trước kia, lái xe thuê cho chủ, có tiền mà vẫn nhục…

Trên xe, Bác hay nói chuyện với mọi người ví von, vui vẻ lắm. Hầu như tối nào Bác cũng xuống sinh hoạt, nói chuyện với cán bộ kể cả “lưu dung”  làm việc trong Bắc Bộ phủ. Mỗi khi có địa phương biếu quà, Bác đều chia cho anh em bảo vệ và phục vụ, tính cách như ông bố già trong gia đình, cùng lắm là nhận một phần rất nhỏ về mình. Có lẽ nỗi lo lắng hơn cả đối với các anh em phục vụ Bác là trình độ hiểu biết, tiến bộ của họ. Thấy tôi văn hóa thấp, lại ít xem sách báo, những khi ít việc Bác gọi tôi lên, bảo ngồi bên cạnh phòng Bác làm việc rồi đưa tôi sách báo cho đọc. Thỉnh thoảng Bác lại mở cửa sang kiểm tra.

Một lần, thấy Bác đang tiếp khách ở phòng bên xem chừng còn lâu, đang tuổi ăn, tuổi ngủ, tôi bèn mở tờ báo để trên bàn, dựa lưng vào ghế, định bụng “làm” một giấc, Bác có vào là tỉnh dậy ngay, vờ cầm lấy báo đọc. Ai ngờ tôi thẳng một giấc ngon lành. Bác vào cũng không biết, ra cũng không hay. Sau đó, khi lên xe rồi, Bác mới nói với tôi:

-   Mới đọc chưa hiểu dễ buồn ngủ. Đọc hiểu rồi sẽ ham. Ham đọc rồi sẽ không buồn ngủ.

Bác chỉ nhẹ nhàng có thế mà tôi cứ xót xa, thấm thía mãi…

Trong đợt “Tuần lễ vàng”, “cứu đói”, Bác và các anh đều nhịn ăn vào chiều thứ bảy hàng tuần. Riêng các lái xe, Bác không cho nhịn. Bác nói:

-  Các con tì vị của các chú thanh niên đến bữa phải cho nó ăn, không là nó réo lên đấy. Đói không lái được đâu. Các chú phải bảo vệ sinh mệnh các cán bộ của đoàn thể trong lúc cán bộ vô cùng quý giá…

4. Lần đầu gặp Bác

 Hôm đó, vào khoảng đầu tháng 4 năm 1946, sau chuyến đi Bến Tre ra Hà Nội, chúng tôi được gặp Bác ở Bắc Bộ Phủ.

Chúng tôi vừa lên hết các bậc thềm thì có một cụ già thoăn thoắt từ phía trong đi ra làm tôi suýt reo lên. Đúng là Bác rồi! Giống hệt như trong ảnh vậy. Tôi đứng ngây người, dán mắt nhìn Bác. Bác niềm nở bắt tay từng người. Khi chưa gặp Bác,  tôi nghĩ chắc Bác nghiêm nghị lắm. Nhưng đến khi gần thì bao nỗi lo âu đều tan hết. Và càng gần Bác, tôi càng xúc động về tình yêu thương chan hòa của một vị cha già đối với các con. Năm ấy tóc Bác chưa bạc nhiều. Khi nhìn Bác nói chuyện, tôi thấy một chiếc răng cửa của Bác không còn. Bác chỉ vào tôi:

- Ưu tiên cho phụ nữ nói trước. Cô nói cho Bác nghe tình hình nhân dân, bộ đội ta ở Nam Bộ giờ thiếu thốn những gì? Các cô, các chú muốn yêu cầu, đề nghị gì?

Tôi luống cuống đứng lên . Là con gái miệt vườn mới 26 tuổi đầu, chưa bước đi đâu, nay trước yêu cầu của Bác, bao nhiêu điều chuẩn bị mong gặp Bác để nói, giờ chạy đâu mất ráo.

Bác cười hỏi tôi:

-  Thiếu súng lắm phải không? Các cô, các chú muốn xin bao nhiêu khẩu mang về?

Thật là kỳ diệu, Bác đã nói đúng điều quan trọng nhất mà các đồng chí lãnh đạo ở Nam Bộ đã dặn đi dặn lại mãi trước khi chúng tôi ra đi.

-  Dạ thưa Bác, thiếu lắm.

-  Thế nào Trung ương và Chính phủ cũng có súng gửi vào Nam. Nhưng nước ta còn ngheo, các cô, các chú phải về đánh Pháp cho giỏi, cướp lấy súng của nó thì cái vốn đó mới nhiều.

Sau đó Bác cho chúng tôi ăn cơm. Trong bữa cơm, Bác hỏi chuyện từng người, Bác bảo tôi:

-  Cô ở lại học tập một thời gian rồi về tiếp tục kháng chiến với bà con. Người cách mạng phải học suốt đời… Người không học như đi đêm không có đèn, không có gậy dễ vấp, dễ té…

Ngày 19 tháng 5 năm đó, đoàn cán bộ miền Nam được đến mừng thọ Bác, Bác nói:

-  Bác không có gì đãi các cô, các chú cả, vì nhân dân ta ở miền Nam còn chịu bao nhiêu đau khổ… Các cô, các chú về báo cáo với đồng bào miền Nam rằng lòng già Hồ, lòng đồng bào miền Bắc lúc nào cũng ở bên cạnh đồng bào miền Nam ruột thịt… Cả nước ta một lòng đánh đuổi giặc Pháp, sẽ có ngày đoàn tụ Nam Bắc một nhà.

Nói rồi Bác khóc. Chúng tôi cũng khóc luôn…

5. Được Bác cảm ơn, chưa được Bác khen

 Vào một ngày mùa xuân năm 1959, phân đội 4 Hải quân được vinh dự đón Bác về thăm.

Bác tới đột ngột và thời gian ở bến cảng quá ngắn, nên đến khi con tàu đưa Bác đi thăm một số đảo, cả đơn vị mới chợt nhớ ra là chưa có gì tặng Bác làm kỷ niệm. Bàn bạc mãi, cuối cùng mọi người thống nhất biếu Bác một bông hoa đá mà chiến sĩ đã lấy được ở tận một khu biển ngoài đảo Hòn Rồng. Hoa đá tượng trưng cho vẻ đẹp của biển và lòng yêu biển của chiến sĩ hải quân.

Anh em sửa sang một cách tỉ mỉ, khiến bông hoa đã đẹp càng đẹp hơn.

Khi tàu đưa Bác trở lại lên bến cảng, pháo thủ Nguyễn Văn Giải được vinh dự thay mặt đơn vị dâng tặng phẩm lên Bác. Nhận bông hoa đá, Bác hướng về phía hàng quân, cất giọng ấm áp vui vẻ nói:

- Các chú có công kiếm hoa đá tặng Bác, Bác cảm ơn. Nhưng tiếc rằng hoa đá đẹp mà không ăn được. Giá các chú biếu Bác vài quả bầu, quả bí do chính các chú trồng được để Bác mang về nấu canh, rồi mời các đồng chí Trung ương cùng ăn, thì Bác càng vui hơn.

Bác mới nói nửa chừng, đã có anh em khẽ bấm nhau. Thì ra, với tặng phẩm hoa đá, Bác chỉ cảm ơn chứ không khen.

6. Cho anh em nghỉ, không mỏi

 Sáng chủ nhật ngày 7/9/1958, chúng tôi đang ăn cơm thì các đồng chí ngoài cổng chạy vào báo là Bác đến thăm. Chúng tôi bỏ cả cơm chạy ra. Ra tới nơi thì Bác đã đến, Bác mặc ngoài chiếc áo len cũ và bộ tiện y màu gụ đã bạc, chân đi đôi dép cao su đen. Trông thấy Bác, chúng tôi sung sướng quá, reo lên: Bác, Bác ạ! Bác cười và giơ tay ra hiệu cho chúng tôi trật tự. Tất cả chúng tôi đều im lặng, Bác hỏi:

- Các chú có tham gia lao động không?

Tiếng “có ạ!” vang lên – Bác nói tiếp:

- Bác ra điều kiện với các chú là không được bao vây Bác, các chú có đồng ý không?

- Đồng ý ạ!

Chúng tôi dãn cả ra, Bác vào ngay nhà ngủ. Bác xem nội vụ và khen là tốt. Bác xuống nhà ăn. Nhìn thấy món ăn không có ớt, Bác hỏi: “Các chú không có ớt à?”, Đồng chí thủ trưởng nói: “Thưa Bác ớt chúng cháu trồng chưa có quả”. Bác quay sang hỏi mấy đồng chí đang ăn: “Các cháu ăn có khỏe không?”.

- Thưa Bác, cháu ăn được bốn bát ạ.

Bác nói: “Như thế mới trung bình, cháu phải ăn khỏe nữa”.

Lệnh đồng chí thủ trưởng tập hợp đơn vị. Chúng tôi về cả sân. Bác hỏi: “Các chú nuôi được bao nhiêu lợn? Trồng được bao nhiêu rau?”.

Một đồng chí nói: “Thưa Bác, chúng cháu nuôi được nhiều lắm ạ, lợn 100 con, còn rau bảo đảm 100% cho đơn vị ăn”. Bác bảo: “ Như vậy chưa đủ, các chú còn phải nuôi nhiều hơn nữa, tăng gia nhiều hơn nữa, không được tự mãn là “nhiều lắm”. Xung quanh các chú còn đơn vị bạn. Các chú tăng gia được, nếu quý thì đem biếu, đem cho, nếu không thì đem bán. Các chú phải tiết kiệm. Lẽ ra đơn vị các chú chi tiêu một tháng 12 triệu thì làm thế nào chỉ tiêu một nửa hay hơn một chút. Ai cũng như thế, đơn vị nào cũng như thế thì chúng ta sẽ có thêm nhiều nhà máy”.

Rồi Bác hỏi: “Muốn tiến lên xã hội chủ nghĩa, các chú phải làm gì?”

- Thưa Bác, phải lao động ạ!

- Các chú còn phải làm nhanh, nhiều, tốt ,rẻ nữa. Thí dụ: mỗi bộ quần áo các chú mặc may hết 5.000 đồng thì làm thế nào chỉ hết 2.500 đồng hay 3.000 đồng, chứ không phải làm  nhanh hóa chậm, nhiều hóa ít, rẻ thành đắt, tốt thành xấu – Bác nói tiếp – trường các chú là Trường sĩ quan Hậu cần. Trước đây, các chú cho hậu cần là không có tiền đồ, khó được huân chương, chỉ chiến đấu mới có huân chương, như thế là không đúng. Các chú có biết ngành Hậu cần có bao nhiêu anh hùng không?

- Thưa Bác, có ạ!

- Thế thì các chú không được quan niệm cấp dưỡng, lái xe… là không có tiền đồ.

Trước khi ra về, một lần nữa, Bác căn dặn chúng tôi phải đoàn kết, tiết kiệm, phải chịu khó.

Đồng chí thủ trưởng hô anh em đứng nghiêm chào Bác.

Bác quay lại bảo: “Cho anh em nghỉ, không  mỏi”.

7. Chú là Hiểu mà lính của chú ít hiểu

 Tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ vừa được ký kết. Chúng tôi đang chuẩn bị cho trung đoàn học tập Nghị quyết của Trung ương. Bỗng một sáng, Bác đi công tác qua, đã vào thăm đơn vị.

Bác buộc ngựa vào một thân cây đầu doanh trại, bước nhanh vào “lán” của chúng tôi. Chưa kịp đánh kẻng tập trung đơn vị, cán bộ, chiến sĩ đã ùa ra vây quanh Bác. Tiếng hô “muôn năm, muôn năm” vang dậy cả khu rừng.

Tôi là trung đoàn trưởng, nên tự chấn chỉnh trang phục, dẫn anh em chạy ra định mời Bác vào nhà khách. Bác ra hiệu không cần thiết, bảo anh em ngồi xuống để Bác bắt đầu nói chuyện.

Bác phân tích tình hình kháng chiến của ta, tình hình thế giới, tình hình ký kết Hiệp định Giơnevơ và việc thi hành hiệp định. Tuy là những vấn đề “hắc búa” nhưng Bác diễn tả cụ thể, rõ ràng, “lính ta” cứ gật gù đồng tình, tỏ vẻ nhận thức được. Tôi đứng cạnh Bác mấy bước thấy vậy cũng khấp khởi mừng thầm trong bụng.

Nói xong Bác hỏi:

- Có chú nào thắc mắc gì nữa không?

- Thôi ạ, thôi ạ!

 Tôi nghĩ, “thôi ạ” nhiều quá thế này, ông cụ lại chất vấn cho một câu, anh nào mà bí thì chết…

Cũng có anh em định hỏi, nhưng ý sợ Bác có ít thời gian, lại cũng có người ngại cán bộ…

Bỗng có một chiến sĩ đứng lên, Bác khuyến khích:

- Cháu cứ nói đi.

Anh lính bỏ mũ nan lợp lá cọ cầm trong tay xoay xoay vành, ấp a ấp úng:

- Thưa… dạ thưa Bác… khi Bác nói chuyện, Bác có kể về Sài Gòn. Cháu… cháu xin hỏi: “Cái nước Sài Gòn” họ ở đâu ạ?

Tôi đứng chết lặng đi.

Bác hơi thoáng buồn, nhìn quanh tìm, tìm được một cái que, rồi tiến ra một mảnh đất không có cỏ nói:

- Các cháu lại đây.

Bác vẽ bản đồ Việt Nam rồi chỉ dẫn:

- Đây là nước ta, phía Bắc giáp, phía Tây giáp… Thủ đô của ta là Hà Nội, Việt Bắc, Thái Nguyên ở đây. Thanh Hóa đây, Huế đây, Sài Gòn đây… Vậy Sài Gòn là của nước ta hay nước nào?

Tiếng trả lời ồn ào hẳn lên. Bác đưa mắt hỏi đồng chí đã thắc mắc.

- Dạ, thưa Bác, Sài Gòn là nước ta ạ…

Bác gật đầu.

Lát sau, Bác bảo anh em về tiếp tục học tập để Bác còn đi công tác…

Chúng tôi tiễn chân Bác xuống đồi. Tôi dắt ngựa đi theo Bác. Bác hỏi:

- Chú nào là cán bộ phụ trách ở đây?

Tôi khẽ thưa:

- Dạ, cháu ạ.

- Chú tên là gì?

- Dạ tên cháu là Hiểu ạ.

Bác dừng chân nhìn thẳng vào mắt tôi, nói:

- Tên chú là Hiểu mà lính của chú ít hiểu biết quá... Có bao nhiêu cháu chưa biết chữ?

- Dạ có đến vài chục người.

Bác nói:

- Chú mở lớp bình dân, dạy cho chiến sĩ, một tháng rưỡi sau Bác sẽ trở lại kiểm tra....

Câu nói và cái nhìn của Bác năm ấy cho đến bây giờ không sao tôi quên được và tôi cứ hối hận mãi như có lỗi với Người.

8. Bác không thích “cưỡi ngựa xem hoa”

 Hôm ấy tất cả mọi người đều đã có mặt để đợi Người về lại Pắc Bó. Đồng bào các dân tộc trong trang phục mới nhất, đẹp nhất của mình đã tề tựu đông đủ. Ai cũng nóng lòng đợi Bác đến. Dọc hai bên đường, từ hang ra đường lớn cũng chật những người.

Biết là còn sớm và Bác sẽ phải đi ngựa trên đoạn đường dài mất khoảng chừng 2 giờ nữa, vậy mà chúng tôi vẫn sốt ruột. Tôi, anh Quất, anh Thế Minh, anh Đại Lâm đi ngược trở ra đón Bác giữa đường.

- Kia rồi! Bác về đến kia rồi!

Tôi sung sướng reo lên khi chợt thấy Người. Nhưng sao Bác lại không đi ngựa. Chúng tôi đã bố trí hai con ngựa tốt nhất để Bác đi kia mà.

Người đang bước thoăn thoắt, vừa đi vừa nói chuyện với mọi người.

Không nén xúc động, chúng tôi chạy ào đến. Chợt nhớ ra Bác không ưa những tình cảm quá ủy mị, nhất là đối với một người chỉ huy quân sự như tôi. Đối với một quân nhân, Bác vẫn thường nhắc nhở phải giữ vững lễ tiết, quân phong, quân kỷ. Tôi liền đứng nghiêm, hai gót giày đập vào nhau, đưa tay lên vành mũ chào, báo cáo với Bác:

- Báo cáo Bác, cháu là Đàm Quang Trung, cùng các đồng chí Đại Lâm, Thế Minh, Quất được đồng bào cử ra đón Bác. Kính chúc Bác và các đồng chí trong đoàn mạnh khỏe!

Bác nhìn tôi trong tư thế quân nhân ấy một lúc, rồi Người hô dõng dạc:

- Nghỉ!

Bác hỏi tôi luôn:

- Các chú đi đón Chủ tịch nước mà “không kèn, không trống”, giản đơn thế này thôi à? – Rồi Bác cười vui vẻ. Chúng tôi vây quanh Bác. Cùng đi với Bác còn có các anh Tố Hữu, Nguyễn Khai, Lê Quảng Ba, Hồng Kỳ, Trung Lâm và một số các anh nữa.

Đi một đoạn, Bác hỏi tôi:

- Chú mấy con rồi?

- Thưa Bác, hai cháu rồi ạ. Một gái, một trai ạ!

- Đã hai rồi, nhanh thế đấy! – Người dừng lại chỉ tay lên ngọn núi cao nhất trước mặt, nói  mới ngày nào chú còn là một thanh niên. Có phải ngọn núi kia hồi trước Bác với chú ở đó không nhỉ?

- Dạ thưa Bác, đúng là ngọn núi ấy ạ!

Đi một đoạn đường nữa, thấy một phiến đá bên đường, Bác bảo mọi người ngồi nghỉ giải lao. Sợ Bác mệt, tôi vội nói:

- Thưa Bác, chúng cháu đã có ngựa để Bác đi cho đỡ mệt ạ!

- Các chú đông vui thế này mà chỉ có hai con ngựa, ai đi, ai không. Hơn nữa, trở về đây, Bác không thích “Cưỡi ngựa xem hoa”.

9. Quà Bác tặng miền nam

 Năm 1962, đồng chí Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc.

Bác Hồ đã tổ chức đón tiếp ngay hôm đoàn đến Hà Nội, tại vườn hoa sau Phủ Chủ tịch - nơi Người thường đọc báo vào các buổi chiều.

Thấy đoàn xe chở đoàn miền Nam vừa vào khỏi cổng cơ quan Phủ Chủ tịch, Bác rảo bước ra đón đoàn . Mọi người xuống xe, quây tròn chung quanh Bác, nhưng không có một tiếng, một lời chào. Các đồng chí trong đoàn quá xúc động không kìm giữ được, đã bật khóc thành tiếng.

Qua phút gặp gỡ ban đầu, Bác hỏi thăm tình hình sức khoẻ mọi người. Bác hỏi cặn kẽ về tình hình miền Nam. Bác đặc biệt quan tâm hỏi tỉ mỉ về đời sống và tinh thần chiến đấu của đồng bào và lực lượng vũ trang giải phóng.

Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu thay mặt đoàn báo cáo tất cả và đầy đủ để Bác nghe. Đồng chí cũng đã thưa lên Bác ước mơ nguyện vọng của đồng bào, chiến sĩ miền Nam đang mong chờ ngày thắng lợi, nước nhà thống nhất, để đón Bác vào thăm. Cuối cùng đồng chí Hiếu thay mặt đồng bào và chiến sĩ miền Nam dâng lên Bác gói quà với giọng nghẹn ngào:

“Thưa Bác, đây là tấm lòng của đồng bào chiến sĩ miền Nam tặng Bác...!”,

Bác cảm động ôm hôn đồng chí Hiếu.

Quà của miền Nam tặng Bác là một bình cắm hoa bằng vỏ đạn pháo cỡ lớn của Quân giải phóng và một cái gạt tàn thuốc lá bằng xác máy bay giặc Mỹ bị ta bắn rơi.

Nhìn gói quà tặng, đồng chí Xuân Thủy quay về phía Bác nói:

- Thưa Bác, Bác có quà tặng đồng bào chiến sĩ miền Nam không ạ?

Nghe đồng chí Xuân Thủy hỏi, tất cả mọi người nhìn đồng chí Xuân Thủy như có ý trách và nhìn Bác chờ đợi. Bác nhìn các đồng chí trong đoàn miền Nam một lượt, rồi chậm rãi nói:

- Có, Bác có quà tặng đồng bào và chiến sĩ miền Nam đây!

- Nói xong, Bác dùng ngón tay trỏ chỉ vào trái tim của mình.

Đồng chí Hiếu quá cảm động ôm chầm lấy Bác, giọng nói đứt quãng trong tiếng nấc: “Thưa Bác... thưa Bác... thưa Bác...!”.

10. Tấm ảnh chụp chung

 Trong kháng chiến chống Pháp, chiến dịch Biên giới của quân đội ta triển khai năm 1950 đã thu được thắng lợi giòn giã vang dội. Chuẩn bị cho chiến dịch này. Bác Hồ trực tiếp đi quan sát thực địa và quán triệt với cán bộ, chiến sĩ của Đại đoàn quân tiên phong:... “Chúng ta quyết thắng trận này. Để thắng trận này, các chiến sĩ ở mặt trận phải kiên quyết, dũng cảm trăm phần trăm”. Ngày tổng kết chiến dịch, Bác khen rất nhiều và dặn: “không phải địch co lại để nằm yên mà co lại để rồi nhảy ra”...

Cho đến hôm kết thúc hội nghị tổng kết chiến dịch. Bác gặp mặt và chụp ảnh chung với tất cả những ai có tên là Dũng có mặt tại hội nghị. Lúc đó chỉ có hai người tên là Dũng là Nguyễn Thái Dũng – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 và một Dũng nữa là Tiểu đoàn trưởng “Dũng Mã”.

Hai đồng chí Dũng được mời đến nơi ở của Bác tại một hang đá nhỏ. Bác ôm hôn, hỏi thăm quê quán gia đình từng người. Thái Dũng là người chỉ huy bị thương còn một tay, Bác ân cần hỏi:

Tay chú như vậy thì leo núi, hành quân chiến đấu chắc là vất vả kho khăn lắm.

Thưa Bác, cháu thường phải gắng sức, nhất là khi leo núi đá, hoặc khi định viết lách gì, và muốn viết nhanh thì chưa thật quen. Đi lại đường xa thì cháu vẫn cưỡi ngựa như thường.

Vậy là chú rất cố gắng. Người ta hay nghĩ những ai bị thương tật là người tàn phế rồi. Chú có tàn nhưng không phế, trái lại chú đã hoàn thành nhiệm vụ không kém gì người lành lặn chân tay. Bác biết là chú bị thương từ năm 48 ở gần Bằng Khẩu. Hai năm thử thách chứng tỏ chú rất cố gắng.

Ba Bác cháu trò chuyện một lúc thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới. Bác bảo chụp ảnh chung làm kỷ niệm. Lúc chụp ảnh, Bác còn hỏi: “Bác còn định gặp một vài chú nữa, nhưng các chú ấy đã về đơn vị rồi. Hôm nay chụp ảnh với hai chú thôi là các chú kia lại suy bì đầy”.

Tâm ảnh đó là một kỷ niệm thiêng liêng nhất mà Thiếu tướng Nguyễn Thái Dũng còn giữ nguyên vẹn đến ngày nay.

 

Trích trong 120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh


Số lượt người xem: 5796 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày